Tôi đặt bài viết này tên là Finding Elsa, vì ít nhiều nó cũng có điểm tương đồng với bộ film nổi tiếng “Finding Nemo” – một chú cá vì sai lầm của loài người mà lạc gia đình, cuối cùng chú cá cũng tìm được đường về nhà. Elsa là ai thì tôi xin để lại hồi cuối, vì để tìm được Elsa, hoá ra tôi cũng đã về “nhà”. Tìm đường về nhà luôn là một hành trình có rất nhiều câu chuyện để kể mãi về sau. Và trước khi tìm được Elsa, tôi đã tìm được:
Hồ Navaisha (Lake Naivasha):
Buổi sáng cuối cùng ở Masai Mara, tôi đứng bên hồ bơi ngắm thật lâu những chấm đen nhúc nhích xa tít tắp vượt quá tầm mắt, không có ống nhòm, chúng tôi và các bạn phục vụ ở nhà hàng thi nhau đoán xem chúng là họ linh dương (antelope) nào. Thú thật, mỗi lần đi qua từng đàn linh dương khác nhau, chú Ken cứ thao thao bất tuyệt về tên của từng loài mà tôi cứ nghe tai này lọt sang tai nọ. Đến cuối cùng, tôi vẫn không thể phân biệt được loại nào là loài nào. Chỉ biết rằng mới chiều hôm qua còn có một con hươu cao cổ lang thang ăn lá keo ngay bên ngoài hàng rào điện của resort ngay trong tầm mắt.
Zebra River Lodge là một boutique resort nằm lọt thỏm giữa Masai Mara, nên thú hoang dã lang thang xung quanh là việc bình thường. Tất cả các nơi tôi lưu trú tại Kenya đều như thế. Những nơi lưu trú có danh tiếng một chút sẽ có hàng rào điện xung quanh do tập đoàn tư nhân tự đầu tư, những nơi địa phương hơn trên Airbnb, nhà dân cho khách du lịch bình dân thì có khả năng là hoàn toàn hoang dã. Người bộ lạc bây giờ cũng đã cập nhật ít nhiều với thế giới rồi nên các hoạt động và lựa chọn dành cho du khách cũng phong phú hơn, phù hợp với ngân sách của từng cá nhân hơn. Dù thú có thể “ghé thăm” bất cứ lúc nào, hầu hết chúng đã quen với sự xuất hiện của khách du lịch, thân thuộc lãnh địa, và “thông tin” phải cẩn thận với loài người đã được mã hóa từ thế hệ thú này sang thế hệ thú khác nên hầu như không chủ động tấn công con người. Trừ khi rất đói, hoặc những trường hợp cực kỳ hy hữu khiến chúng cảm thấy bị đe dọa thì bản năng hoang dã của chúng mới thực sự trỗi dậy. Những điều đó tôi tiếp nhận được từ Elsa, thông tin này được ghi chép và phát hành vào năm 1960. Đến khoảng 1963-1965 (cần được kiểm chứng lại vì tác giả không ghi rõ chính xác khi sự việc xảy ra trong “Born Free”), Serengeti lần đầu tiên xảy ra sự việc sư tử tấn công người đến tử vong ở lều khách du lịch kể từ khi Serengeti chính thức mở cửa đón du khách. Những con thú hoang dã tấn công người và gia súc đều có kết cục bi thảm. Đến thời điểm hiện tại, tôi tin chắc tỷ lệ này đã giảm xuống đáng kể, thậm chí bằng 0 vì dân số đã vượt xa số lượng thú hoang dã còn sót lại, và động vật đã truyền tín hiệu thành công cho hậu duệ của chúng rằng loài người – loài động vật với bộ não to lớn về tỷ lệ, phi thường, phức tạp, đẹp đẽ dường ấy mới là loài động vật nguy hiểm nhất.




Từ Masai Mara đến Lake Naivasha mất từ bốn đến sáu giờ đồng hồ. Chú Ken đã lựa chọn con đường xa nhất. Cơ sở hạ tầng ở Kenya chưa được hoàn thiện. Kenya có bốn mươi bảy hạt bán tự trị, mỗi hạt sẽ chịu trách nhiệm cho cơ sở hạ tầng và chính sách địa phương nên đường sá ở Kenya rất “lồi lõm” cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Chú Ken bảo nếu chọn con đường có khoảng cách gần hơn thì chúng tôi có thể tiết kiệm được hai giờ đồng hồ, nhưng rủi ro sẽ bị kẹt lại ở đó hai ngày mà không có cứu hộ nếu chẳng may sụp ổ voi, hoặc lún bánh do đường đất lầy lội.
Chúng tôi đặt chân đến Naivasha của hạt Nakuru khi mặt trời vừa đứng bóng. Kiyuku là tộc đông đảo nhất sinh sống khắp hạt Nakuru. Chính quyền, văn hóa, bản sắc của tộc Kiyuku rõ nét ở hạt Nakuru, đời sống của họ khá hiện đại, cởi mở hơn những tộc khác. Theo như những gì tôi đã đọc được từ Out of Africa của Karen Blixen thì bộ lạc Kiyuku và bộ lạc Masai Mara có mối thâm thù truyền kiếp, lý do chính thì dù có từ thuở hồng hoang đến hiện tại cũng chỉ xoay quanh lợi ích, đất đai và quyền sở hữu gia súc.


Naivasha là một vùng đất rất dễ chịu. Thời tiết ở hạt Nakuru ôn hòa hơn rất nhiều so với Masai Mara nên cả người và thú ở đây đều điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm lắng. Đây cũng là một khu vực sinh sống cân bằng, nên người Châu Âu (đa số là người Anh) đến Kenya đô hộ, sau đó chọn ở lại hoặc người nước ngoài sau này đến xây dựng sự nghiệp tập trung rất nhiều xung quanh hồ Naivasha, thành ra mà giá bất động sản ở đây không rẻ chút nào. Đường sá lót nhựa bằng phẳng, khung cảnh bình yên, có nhiều cơ hội công việc, con người nhu mì hơn hẳn. Lake Naivasha cũng là nơi khiến tôi nhận ra thổ nhưỡng thực sự quyết định tính cách của động vật hoang dã thế nào.
Naivasha trong tiếng Swahili có nghĩa là “hồ”. Như vậy, Lake Naivasha có nghĩa là hồ-hồ. Nói thế quả không sai chút nào vì hồ trông như biển, không có điểm dừng. Mỗi năm mực nước hồ sẽ dâng lên cao một chút, lấn vào đất liền một chút do không có mạch nước ngầm đổ ra biển. Hồ nước ngọt độc đáo này dường như đã nuốt chửng tất cả: những căn nhà đã từng có hơi người, những khu chợ đã từng sầm uất, trường học đã từng nhộn nhịp tiếng trẻ con, cây cối đã từng lớn lên, thảm cỏ đã từng xanh mướt, và những phần xa hoa nhân tạo của resort xung quanh. Theo thống kê, trong suốt gần một thập kỷ từ 2010 đến 2020, Lake Naivasha đã bành trướng diện tích từ 139 ki-lô-mét vuông đến 198 ki-lô-mét vuông. Và tại thời điểm chúng tôi đến (2026), hẳn đã còn bành trướng hơn nữa. Ngạc nhiên tột độ, tôi hỏi Mosef – anh lái thuyền của chúng tôi – “thế người dân địa phương đã đối phó như thế nào?”. Mosef trả lời rất hồn nhiên: “thì chúng tôi đi thôi, nước dâng đến đâu, chúng tôi đi đến đó”. Khi đang ở giữa hồ, Mosef đã nói rằng: “Nơi con thuyền của chúng ta neo bây giờ này, ngày xưa là một căn phòng của resort đó chứ. Chúng ta sẽ có cách cả thôi”. Ừ, thiên nhiên có cách của Người, và loài người phải học cách thích nghi với thiên nhiên. Chính tính cách lạc quan đó đã làm cho chúng ta trở thành loài động vật đứng đầu chuỗi thức ăn của hành tinh này.


Những cái cây đã chìm trong lòng hồ chỉ còn nhô lên một phần khẳng khiu, lổm chổm đen làm thước đo mực nước tự nhiên, làm chỗ dừng chân nhất thời cho đôi vịt trời Ai Cập di dân, cho đôi chim cốc (cormorant) mỏi cánh, thỉnh thoảng có những nhánh cây đã bị nước bào mòn chìa ra, trở thành chỗ ngồi ưa thích cho ngư dân câu cá. Lake Naivasha là hồ nước ngọt nên ở đây chỉ có hà mã, không có cá sấu. Hai loại động vật hung tợn này thường cùng tồn tại trên một dòng sông. Chúng đều là sát thủ dưới nước và cả trên cạn, chỉ khác là một loài “ăn chay” và một loài “ăn thịt”. Ở Lake Naivasha, hà mã lại cộng sinh với con người và hơn bốn trăm loài chim muông. Chất thải của chúng là một nguồn thức ăn dồi dào cho lũ cá trong hồ, vừa hay thì cả chim và người đều rất thích cá.
Lũ bồ nông ở hồ Naivasha được vỗ béo bởi tiệc buffet cá hàng ngày nên lông mướt mát, đứa nào cũng có chiếc mõm màu pastel như bước ra từ sách ảnh động vật in ấn chất lượng cao và có vẻ thân thiện với con người. Ngoài hàng chục con lượn quanh không trung, hàng chục con lững thững trên thảm cỏ, hàng chục con khác lại tụ tập trên cành cao, thì có bốn, năm đứa cứ lẽo đẽo bơi theo thuyền của chúng tôi, giữ khoảng cách vừa phải cho chúng tôi tha hồ tác nghiệp. Đây là lần đầu tiên tôi ở khoảng cách gần với động vật hoang dã trong không gian mở đến thế và vẫn còn hồi sau nữa, có cả gia đình hà mã đằng xa đang giương những đôi mắt thăm dò nữa chứ…
Những thảm cỏ đã từng là sân chơi cho loài người lềnh bềnh, dập dìu trên mặt hồ nay lại là sân chơi cho lũ hà mã khi tắt nắng. Hàng rào điện của các resort cứ phải dời vào từng chút mỗi năm. Có rất nhiều ngư dân Kiyuku cởi trần giăng lưới, họ không thích chụp ảnh nên chúng tôi không thể tiếp cận, nhưng họ lại chẳng phiền một gia đình hà mã nào đó đang ngụp lặn, cứ mỗi năm phút lại ngoi lên mặt nước hít thở một hơi sâu. Tôi hỏi: “Mosef, họ không sợ sao?”. Mosef trả lời: “Họ có khu vực đánh cá của họ, miễn là họ không xâm phạm lãnh thổ của chúng, không làm chúng cảm thấy bị đe dọa là được. À, gia đình hà mã đó vừa có một con mới sinh, mẹ hà mã mang nó ra xe tít tắp ở cái bèo kia rồi kìa bạn thấy không? Đừng đến khu vực đó là được vì hà mã mẹ sẽ tấn công để bảo vệ con đấy”. Tôi lại hỏi tiếp: “Vì sao bạn biết rõ từng gia đình nào ở khu vực nào?”. Mosef cười hiền nhe hàm răng trắng tinh đã lệch đi một cái: “Sao lại không? Chúng tôi biết tất cả mọi thứ về chúng, mỗi ngày tôi đều đi một vòng để quan sát chúng, và bọn chúng cũng biết mọi thứ về chúng tôi. Bạn xem đây nhé, chuẩn bị camera đi nào”.








Nói rồi, Mosef lái thuyền cập sát chợ nổi của ngư dân, móc ít tiền lẻ mua hai con cá bạc. Mùa thấp điểm, các thuyền chở du khách thư thả neo dọc chợ nổi trắng phau. Mặt trời đổ một thau óng ánh đẹp xúc động. Vậy mà cả mênh mông nước ấy chỉ có mỗi chúng tôi, thêm hai cô nàng châu Á đã khởi hành được một lúc lâu. Tôi có tình yêu đặc biệt với sự lấp lánh này vô cùng, không ngoa chút nào đâu nếu tôi so sánh thứ tình cảm đó còn sâu sắc hơn cả với…kim cương quý thứ thiệt. Mosef huýt sáo như thể gọi một người bạn thân quen, rồi quăng con cá bạc xuống sông. Một chú đại bàng săn cá (fish eagle) trưởng thành đang đậu trên chóp cành cây cao nhất, xa nhất lao xuống trong tích tắc, chính xác đến từng mili giây, dùng móng vuốt quắp con cá bạc vừa chìm vào làn nước và lại bay thẳng lên cành cây. Mắt của đại bàng có thể xuyên qua tia cực tím và tinh gấp bốn đến tám lần so với con người. Năm phút sau, hẳn là vị vua của bầu trời Naivasha đã thưởng thức xong con cá bạc thứ nhất, Mosef tiếp tục huýt sáo, rồi quăng con cá bạc còn lại xuống nước. Chuyên nghiệp như thể đã trình diễn màn săn bắt này hàng vạn lần, vị vua bầu trời lặp lại một động tác chuẩn xác đến từng micro giây, quắp con cá bạc lần thứ hai. Thế là xong một bữa trưa no nê.
Nếu sư tử là vị vua của thảo nguyên, voi là bá chủ của rừng già thì đại bàng cai ngự bầu trời. Đại bàng không có thiên địch. Kẻ thù lớn nhất của đại bàng, buồn thay, chính là chúng ta – loài người. Ngày hôm đó ở Lake Naivasha, may mắn làm sao, tôi được chứng kiến cách người dân địa phương dung hòa với động vật hoang dã, như cách họ đã học thích nghi với sự hung hãn của hồ Naivasha.







Thuyền chầm chậm cập bờ Đảo Lưỡi Liềm (Crescent Island), và ở đó có một châu Phi rất khác. Khi nói đến châu Phi, người ta sẽ nghĩ nhiều đến những pha rượt đuổi con mồi kịch tính, nắng, nóng, gió, bụi, những kiếp người khắc khổ, những cuộc đời khắc nghiệt. Quả đúng có như thế. Nhưng khi đặt chân đến Đảo Lưỡi Liềm, chỉ có một sự bình yên, cây xanh dày đặc đủ sức che phủ cả bầu trời, những loài động vật ăn cỏ hoang dã đi lại tự do, và con người rón rén rẽ lối đi giữa chúng. Ở đây có hươu cao cổ, waterbuck (linh dương nước), ngựa vằn, đà điểu, ngựa, linh dương đầu bò, và trâu rừng. Một con linh dương đầu bò đực lẻ loi nằm một mình. Chú Ibrahim – người dẫn chúng tôi đi vòng quanh đảo – giải thích với chúng tôi rằng tầm một trăm con linh dương đầu bò đã được đưa đến đây để quay bộ film Out of Africa (film chuyển thể của cuốn sách cùng tên mà tôi đã nhắc ở trên) do Meryl Streep đóng chính. Bộ film được quay từ năm 1985. Đã hơn bốn mươi năm trôi qua, nay chỉ còn lại khoảng ba mươi con do chết tự nhiên. Con linh dương đầu bò đực lẻ loi này đã thua trong cuộc đấu giành đàn nên đơn độc. Nó nằm buồn nhìn về hướng đàn linh dương đầu bò, rồi lại đứng dậy gọi đàn đằng xa, những tiếng cốc cốc phát ra từ cổ họng vô vọng thật đáng thương. Tôi hiểu rõ về tập tính của những loài động vật sống theo đàn, nhưng khi chứng kiến tận mắt, ở một cự ly rất gần một sinh vật bị gạt ra khỏi vòng tròn đồng loại làm tôi không khỏi xót xa. Chúng ta – loài người – cũng là một loại động vật sống theo chủ nghĩa bầy đàn, và cũng là chúng ta – loài người – khi ngày càng tiến hóa, càng lạnh lùng gạt nhau ra xa. Tháng Bảy đến tháng Tám hàng nằm là mùa giao phối, mùa di dân của châu Phi, nên đàn linh dương đầu bò liên hồi chạy vòng quanh để tập dượt cho những điều sẽ không bao giờ xảy ra với chúng: vượt biên giới Tanzania đến Masai Mara và ngược lại. Chúng được đưa đến Đảo Lưỡi Liềm và sẽ không bao giờ rời khỏi Đảo Lưỡi Liềm. Cái giá của bình yên vô tận là mất đi sự tự do. Linh dương đầu bò đứng cuối cùng trong danh sách đỏ, nhưng lại là mắc xích cực kỳ quan trọng cho mùa di cư hàng năm. Hàng trăm nghìn con linh dương đầu bò sẽ băng thảo nguyên, băng qua những ngọn đồi, vượt sông và suối tiến đến Masai Mara tìm kiếm bạn tình, rồi quay về Tanzania chuẩn bị cho mùa sinh sản vào tháng Mười và tháng Mười Một. Chúng đông đến độ có thể làm mặt đất rung chuyển, tạo địa chấn ở những khu vực mà chúng rầm rập chạy qua. Đó là một bữa tiệc thịnh soạn kéo dài cho cá sấu, sư tử, báo đốm, linh cẩu, chó săn và tất cả các loại động vật săn mồi của savanna. Đó là một cảnh tượng mà tôi khao khát được chứng kiến một lần trong đời. Linh dương đầu bò là một trong năm “Ugly Five” (năm động vật xấu xí nhất) của châu Phi gồm: linh dương đầu bò, kền kền, marabou stork, linh cẩu và heo rừng. Sau khi giải thích cho chúng tôi cặn kẽ, chú Ibrahim khẽ nói: “Nhưng chú không nghĩa đây là loại động vật xấu xí”. Chúng tôi cảm nhận được sự đồng cảm sâu sắc giữa chú Ibrahim và những con vật bị cô lập ở Đảo Lưỡi Liềm. Có lẽ, sau chú Ken thì chú Ibrahim là người đã để lại ấn tượng khó phai trong tôi dù thời gian gặp chú vô cùng ngắn ngủi.






Khi đặt chân đến Naivasha, tôi đã có thắc mắc vì sao Laura – cô bạn đã thiết kế toàn bộ hành trình ở Kenya cho tôi – lại đưa Naivasha vào lịch trình. Trong quá trình lên kế hoạch, tôi bày tỏ sự mong muốn mãnh liệt được thấy động vật hoang dã, những cuộc săn mồi kịch tính như trên National Geographic xuyên suốt, nhưng Naivasha lại là một thế giới rất khác. Song lại không khác. Sự mạnh mẽ, bất khuất và không cúi đầu trước giông tố của lục địa đen vẫn thể hiện rất rõ qua cách con người đã sống và đang sống, thể hiện qua những cái cây khổng lồ đã ngã xuống nhưng vẫn kiên trì bám rễ để tiếp tục sống dưới một hình dạng khác. Mỗi điểm đến trong hành trình “về nhà” đều có lý do riêng của nó.

Chúng tôi tiến về Vườn quốc gia Hell’s Gate (VQG Hell’s Gate):
Hướng dẫn viên trong suốt một giờ đồng hồ ở VQG Hell’s Gate của chúng tôi tên là Innocent (Vô Tội), chẳng còn gì có thể trùng hợp hơn nữa. Đi bộ suốt hơn một giờ đồng hồ từ điểm đầu, quanh một vòng tròn đến điểm cuối khu địa chất Ol Njorowa, chúng tôi đã đi qua mạch nước khoáng nóng bỏng tay, những khe núi ma mị, đá núi lửa trơn trượt. Khách du lịch không được tiến sâu bên trong vào mùa mưa phòng lũ tràn về. Chúng tôi đến nơi khi mùa mưa thứ nhất vừa dứt, và mùa mưa thứ hai chưa kịp bắt đầu.
VQG Hell’s Gate nằm ở trái tim thung lũng Rift thuộc địa phận Kenya. Đây là VQG nhỏ nhất Kenya, nhưng kích thước không làm Hell’s Gate thua kém bất cứ VGQ nào. Ở đây cũng không có những hoạt động thú hoang dã kịch tính như các VQG khác, nhưng điều đó cũng không làm Hell’s Gate nhàm chán hơn bất cứ nơi đâu. Ở những nơi khác, bạn bắt buộc phải ngồi trên xe, nhưng ở Hell’s Gate thì bạn còn có thể đạp xe đạp tha hồ mà thưởng ngoạn, khám phá tự do. Đạp xe loanh quanh VGQ Hell’s Gate là một trong những hoạt động được đánh giá cao, đặc biệt là vào thời điểm ánh nắng cuối ngày rực rỡ nhất, trải một thảm vàng ươm bao phủ trùng điệp núi rừng trước khi tàn ngày. Hell’s Gate là VQG đẹp nhất ở Kenya vì có phong cảnh hùng vĩ, những dốc đá, triền núi bậc thang bị bào mòn tự nhiên như những tòa nhà cao tầng của một thế giới giả tưởng, có những hẻm núi địa chất độc đáo, kỳ bí, mang theo những câu chuyện dân gian truyền miệng của người Masai Mara từ những ngày rất đỗi xa xôi. Ở đây không có thú săn mồi ngoài beo (cheetah) và linh cẩu ẩn náu ở tít trong rừng sâu. Nơi đây cũng chính là phim trường tự nhiên của Lara Croft: Tomb Raider (Bí mật ngôi mộ cổ) (2003) do Angelina Jolie đóng chính, và bộ film hoạt hình kinh điển Vua Sư Tử (1994) – nơi đã bắt đầu giấc mơ của riêng tôi.





Trung tâm của Ol Njorowa được hình thành khi núi lửa phun trào, tách núi làm đôi thành một khe hở hẹp, khe hở này từng dẫn nước từ một hồ nước thời tiền sử, cung cấp nước và nuôi sống những con người đầu tiên của nhân loại trong thời kỳ đầu của thung lũng Rift ở địa phận Kenya (thung lũng Rift kéo dài từ Biển Đỏ đến Mozambique – là món quà tuyệt hảo nhất mà Mẹ Thiên Nhiên ban tặng cho châu Phi). Cho đi và cũng lấy lại, với địa hình vốn dĩ đã trắc trở, núi lửa phun trào, nước sôi sùng sục, và sự mê tín dị đoan cực đoan, người dân Masai Mara xem nơi đây là nơi ở của quỷ dữ. Những làn khói sục sôi từng được xem là tiếng gọi của những người chết đến người sốnng. Tương truyền rằng khi chưa được khai hoang, lũ đã đến và cuốn trôi đi tất cả, từ làng mạc đến con người như một sự trừng phạt của thần linh, vậy mà chỉ có lũ gia súc được an toàn, không mất một con nào và cư ngụ ở những khe núi địa chất ấy, nên người dân đã đặt tên cho khu vực này là “The Devil’s Bedroom”. Gia súc là tài sản, là thước đo, là văn hóa, là lẽ sống của người Masai Mara. Quỷ dữ phải ưu ái đám gia súc nhường nào mới cho phép chúng vào phòng ngủ – nơi riêng tư tối thượng. Đó là cách người dân Masai Mara đã giải mã Hell’s Gate.


Năm 1883, hai nhà thám hiểm người Đức Gustav Fischer và người Anh Joseph Thomson đã tìm ra khe địa chất độc đáo này. Hai người họ đã đặt tên cho vùng đất này là Hell’s Gate. Vì đúng như tên gọi của nó, bước qua khe núi trong có hình dạng như một chiếc cổng, bạn như đặt chân đến một thế giới khác. Thiên đường, hay địa ngục là do bạn tự do cảm nhận. Chắc gì chỉ có những điều xấu xa ở địa ngục vì đã có ai đã trở về và kể lại những câu chuyện từ địa ngục đâu? Hell’s Gate đã từng là núi lửa nên khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên đủ để biến nơi này thành trung tâm nhà máy điện địa nhiệt Olkaria, biến Naivasha thành một vùng đất vừa phát triển du lịch bền vững, vừa phát triển nền công nghiệp, lẫn nông nghiệp. Innocent đã chỉ cho chúng tôi cách nhận biết dòng nước nóng khoáng bỏng ta và dòng nước lạnh qua lớp rêu trên mặt đá. Mãi đến một trăm lẻ một năm sau (1984), người ta mới chính thức công nhận toàn bộ 68 ki-lo-mét vuông này là một VQG được bảo trợ dưới tên gọi chính thức Hell’s Gate. Tên của Fisher cũng được đặt theo tên của một ngọn núi tự nhiên, là nhà của lũ chuột núi (rock hyrax) và là điểm mạo hiểm yêu thích của các nhà leo núi.


Innocent đưa chúng tôi quay trở lại điểm xuất phát, băng qua khu chợ của những người đàn bà cục mịch Masai Mara. Họ chào mời hai vị khách cuối cùng của VQG và tỏ ra đầy tiếc núi vì đã chờ chúng tôi công cốc. Tôi hỏi Innocent và những người đàn bà này ở đâu. Họ ở bên kia sườn núi, và phải đi bộ mỗi ngày hơn mười cây số để đi làm và quay về, hôm nào được may mắn ké xe của người quen một đoạn đường thì đó hẳn là một ngày đẹp trời. Nhân công ở vườn hoa, vườn táo tụ tập và đi bộ theo nhóm cũng đã tan ca, tràn ra hết cả lòng đường nhựa xe bon bon chạy.
Kiểm lâm lái mô tô kiểm tra vườn quốc gia lần cuối trước sáu giờ tối. Khói bụi tung mịt mù, tiếng động cơ rồ rồ làm lũ nai giật mình chạy loạn xạ. Xe của chúng tôi chầm chập rời khỏi VQG, chuẩn bị cho một đêm nghỉ chân ở Sopa Lodge với những cây xương rồng hình thù kỳ dị như thuộc về một tiểu cầu xa lắc lơ, hươu nai tự do ra vào khuôn viên resort dù vẫn giữ khoảng cách nhất định với con người, những con khỉ colubus bốn ngón chuyền cành, và lũ hà mã giờ đã lên bờ ăn cỏ gọi nhau inh ỏi suốt cả đêm. Tôi quay đầu lại nhìn VQG Hell’s Gate lần cuối, thứ vẫy chào tôi chính là dòng chữ “Elsa’s Gate“, và một bia đá kiêu hãnh: “Tưởng niệm Joy Adamson“.






Elsa:
Cho đến sau bữa tối no nê và một ly cocktail tự thưởng mang cái tên lạ hoắc, tôi vẫn nghĩ Elsa là tên của nữ hoàng băng giá, hoặc giả chăng là tên của con gái quý bà Joy Adamson. Lãng đãng tấp vào quầy bán hàng lưu niệm của resort, giữa cơ man là các món thủ công có đắt có rẻ, những tạp chí, sách báo màu sắc về Châu Phi, tôi dừng ánh mắt của mình tại một cuốn sách có bìa trắng đen: Born Free – ấn phẩm đặc biệt kỷ niệm 50 năm – tác giả Joy Adamson. Trên bìa sách là hình một con sư tử cái vắt vẻo trên cành cây. Tôi đã từng đọc qua một cuốn sách có tựa là Blink (Chớp mắt) về nguyên lý ba giây, nguyên lý của trực giác – được sản sinh dựa trên kinh nghiệm, hoặc những gì mà não bộ đã lưu trữ suốt những năm trong đời. Trực giác của tôi đã bảo với tôi rằng, con sư tử cái nằm vắt vẻo ở bìa sách ấy chính là Elsa, đó chính là cái tên cuối cùng tôi nhìn thấy khi tạm biệt VQG Hell’s Gate dù tôi chưa hề mở một trang sách nào để kiểm chứng. Ngước lên hỏi giờ đóng cửa với ông chú bán hàng đang lười nhác chờ tan ca, ông ấy chỉ nói: “Được rồi, tôi chờ bạn lên lấy tiền thanh toán, nhưng nhanh lên nhé, 10 phút!”.
Đêm đã về khuya, nhiệt độ xuống thấp, gió rít rùng rợn, những dáng cây lạ kỳ tôi vừa trầm trồ ban nãy giờ đây đã hóa thành những bóng đen hù dọa, thêm tiếng eng éc ầm ĩ của lũ hà mã từ tứ phía làm một đứa về cơ bản là cũng can đảm như tôi dè dặt. Song sự tò mò về Elsa đã lấn át tất cả. Tôi ôm cuốn sách sát người, rảo bước thật nhanh về phòng rồi hít hà mùi giấy thơm tho vỗ về giấc ngủ.
Elsa là con sư tử nổi tiếng nhất thế giới. Kể từ năm 1960s khi cuốn sách phát hành cho đến nay, vẫn chưa có một con sư tử nào nổi tiếng hơn Elsa. Cuộc đời ngắn ngủi của Elsa đã được dựng thành film tài liệu, được đề cử Oscar và đã giải Oscar ở hạng mục âm thanh hay nhất. Elsa là một con sư tử con mồ côi được nhận nuôi, và huấn luyện để trở về tự nhiên thành công bởi Joy Adamson. Mẹ của Elsa bị loài người bắn tự vệ, mà không biết rằng sư tử cái dữ tợn nhất khi đang nuôi con nhỏ. Người nổ phát súng định mệnh ấy chính là George Adamson – chồng của Joy Adamson. Joy và George đã dùng cả phần đời còn lại của mình để bù đắp cho sự việc đau lòng xảy ra, đấu tranh, tận hiến để bảo tồn thế giới hoang dã tự nhiên. Giờ thì bạn đã hiểu, vì sao tôi đặt tên “Finding Elsa” theo tên của bộ film “Finding Nemo” rồi đấy.
Joy và George đã sống một cuộc đời phi thường, nhưng khiêm nhường đáng ngưỡng mộ. Do tôi là một người Á Châu, ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ liên quan đến tâm linh, cụ thể là thần số học, sau khi đọc xong Born Free và tiếp tục lùng sục cả thế giới để tìm mua hai cuốn còn lại trong bộ ba quyển sách (đã hoàn toàn ngưng tái bản), đọc rất nhiều về cuộc đời của tác giả, cũng như về Elsa, tôi tin vận mệnh của Joy Adamson và Elsa gắn liền mật thiết với nhau qua những con số. Joy Adamson đã có Ba đời chồng, bà bị sảy thai Ba lần. Người chồng thứ Ba của bà (George Adamson) đã bắn chết mẹ của Elsa, tại thời điểm ấy vừa hạ sinh Ba con sư tử con (hai chị của Elsa đã được đưa đến vườn sở thú ở Hà Lan và không bao giờ được quay lại thế giới tự nhiên). Elsa mắc bệnh nhiễm trùng máu, đây là ca phát hiện bệnh ở sư tử đầu tiên tại châu Phi và chết trong tự nhiên tại vườn quốc gia Meru – nơi Elsa được huấn luyện để trả về tự nhiên thành công sau rất nhiều lần bôn ba (thổ nhưỡng rất quan trọng đối với động vật hoang dã, vì chúng không có khả năng thích nghi thần kỳ như loài người, nên Joy và George phải gần như đi khắp châu Phi để tìm được nơi phù hợp với gen và tập tính nguyên thủy của Elsa). Elsa đã gặp được bạn tình tại đây và hạ sinh thành công Ba chú sư tử con: Jespah, Gopa và Little Elsa. Mộ của Elsa được dựng dưới tán cây keo yêu thích của gia đình sư tử nổi tiếng nhất thế giới. Riêng Jespah, Gopa và Little Elsa đã được đưa đến Serengeti để huấn luyện trả về tự nhiên, vì tại thời điểm Elsa qua đời, cả ba con sư tử đều chưa đến tuổi trưởng thành (chưa đến hai tuổi) để có thể săn mồi, chiến đấu và học cách tự sinh tự diệt ở thế giới tự nhiên. Cả ba con sư tử mồ côi đã ăn cắp gia súc của người dân bản địa để sinh tồn, có thể trở thành mối đe dọa cho con người nên chính quyền Kenya đã ra sắc lệch hoặc là tìm nơi khác cho chúng sinh sống, hoặc sẽ giết chết ba con. Joy và George đã vận dụng hết sự nổi tiếng của Elsa (lúc này đã phát hành sách và nổi tiếng toàn thế giới, có lực lượng fan hâm mộ đông đảo, gây được rất nhiều tiếng vang trong hoàng gia), mối quan hệ của mình tại châu Phi để di dời Jespah, Gopa và Little Elsa đến Serengeti. Tiếp tục ở lại Serengeti với những khó khăn vô vàn, bị đuổi từ lều này qua trại nọ, Joy và George cuối cùng đã lạc dấu hoàn toàn của chúng sau trận lũ lụt kinh hoàng nhất trong lịch sử của Serengeti. Số phận của Jespah, Gopa và Little Elsa là một dấu chấm hỏi lớn, hoặc cũng có thể là di sản của sư tử Serengeti. George đã tiếp tục dành phần đời còn lại của mình giải cứu sư tử, Joy đã tiếp tục giải cứu và thả về tự nhiên thành công thêm hai con beo (cheetah). Cả hai đều đã cống hiến đến những năm bảy mươi tuổi, và đã bị chính đồng loại của mình sát hại trong quá trình bảo vệ thú hoang dã.
Một con người đến sống ở châu Phi vào những năm phức tạp nhất của nhân loại đã được xem là anh hùng, vậy mà một người phụ nữ mang bên mình rất nhiều tổn thương lại đồng ý đến một nơi khô cằn bậc nhất, xông xáo đi giữa những con sư tử hoang dã và một thế giới đầy rẫy hiểm nguy bất ngờ, di chuyển liên tục giữa mùa nắng rát, và mùa mưa lũ, chỉ để xây dựng tình yêu, lòng tin với sư tử. Elsa (khi trưởng thành nặng gần hai trăm ký lô) vừa hạ gục một con hươu trưởng thành và lôi xác “nạn nhân” từ dưới sông lên tận mỏm đá cao để bảo vệ tuyệt đối bữa ăn của mình, lại lững thững về trại, thu móng vuốt để ôm Joy và George như một đứa con ôm cha mẹ. Nếu bạn kiên nhẫn đọc được quyển sách này, bạn sẽ hiểu vì sao Elsa lại nổi tiếng nhất thế giới, và những điều kỳ diệu luôn xảy ra trong cuộc đời này bất kể địa lý, bất kể dòng thời gian. Born free là cuốn sách bán chạy nhất thế giới liên tiếp nhiều năm, đã được chính những người cao quý như Sir David Attenborough tôn vinh, và đóng góp sự xuất hiện của mình trong một chương nhỏ. Born free làm cho chính cá nhân tôi cảm thấy những ước mơ hoạt hình của mình hóa ra đều từng là ước mơ của những người vĩ đại nhất. Born free làm cho tôi hiểu được những cá nhân vĩ đại nhất (trong lòng tôi) đơn giản chỉ những cá nhân không bỏ cuộc, những cá nhân có niềm tin tuyệt đối, những cá nhân có tình yêu sâu sắc với cuộc đời này. Tôi thực sự nghĩ rằng Disney đã chơi chữ khi đặt tên nhân vật Elsa – Nữ hoàng băng giá (2003) theo tên Elsa, vì Vua Sư Tử (1994) cũng chính là một cột mốc cực kỳ quan trọng của Disney. Elsa cũng là một trong những tên viết tắt của Elizabeth. Elsa – vị hoàng hậu của thảo nguyên bao la – đã bao dung với con người, như chính cách con người đã yêu thương Elsa và ba đứa trẻ.
Trên e-visa của Kenya, ngoài các thông tin cần thiết, còn có câu: “Tobong ‘u Lorre“. Trong tiếng Swahili, nó có nghĩa là: “Chào mừng về nhà“. Những đứa con nào đi xa, rồi cũng sẽ phải trở về “nhà”. Khi trưởng thành, tôi nhận ra hầu hết tất cả chúng ta đều bị bủa vây bởi những giấc mơ sai hướng. “We are all sold the wrong dreams” là một câu nói là tôi đặc biệt thích. Ít nhất thì bây giờ tôi đã biết chính xác đích đến giấc mơ kế tiếp của tôi ở đâu. Bạn đoán được không?
.::Nat & her journeys::.
Kenya, 6/2026
