Chúng tôi – năm con người – rong ruổi một vòng quanh Maroc 14 ngày cùng với chiếc Mercedez Tourer bảy chỗ tiện nghi và anh tài xế râu quai nón lãng tử. Chúng tôi đã đặt chân đến phía Tây Bắc có Chefchaouen, vào đến giữa lòng sa mạc Sahara, hướng về cố đô Marrakech và nghỉ ngơi, phục hồi ở thành phố biển Essaouira. Đó là những địa điểm chúng tôi đã dành phần lớn thời gian của mình để tìm hiểu, học hỏi và khám phá nền văn hoá lai tạp của đất nước Bắc Phi vô cùng đặc biệt và lâu đời này. Đó là một chút Ả Rập huyền bí, một chút Địa Trung Hải nóng bỏng, và một chút đa màu Tây Phi (1) .
Để vẽ được cung đường vòng tròn hoàn hảo ấy, tôi không thể không kể đến những điểm dừng chân kết dính giữa các thành phố mà tôi đã kể trên. Cái hay ho nhất của “road trip” (2) là sự tự do tự tại dừng chân giữa đường. Đôi khi chúng tôi chỉ dành thời gian 30 phút, đôi khi là một đêm dài ở một nơi nào đó. Song những trải nghiệm ở từng nơi lượm nhặt như thế thú vị chẳng kém cạnh gì các thành phố mà chúng tôi đã dành phần lớn thời gian.
Chúng tôi đã dừng chân ở Casablanca (Kaẓa).
Nếu bạn mong chờ Casablanca lãng mạn như cuốn tiểu thuyết hay tác phẩm điện ảnh bất hủ cùng tên thì bạn sẽ…thất vọng như tôi. Casablanca điện ảnh được quay ở Hollywood, và chẳng có một chút gì Kaẓa ở Casablanca cả. Kaẓa lồi lõm những công trình dang dở rải rác từ ngoại thành đến nội thành. Kaẓa tuy là thành phố lớn nhất Maroc nhưng trông cũ kỹ bởi những toà nhà cao tầng vàng ố màu cát rệu rạo chẳng ai buồn chăm sóc. Mọi thứ ở Kaẓa cứ thế đan xen nhau rất vô duyên.
Thật ra, chúng tôi ở Kaẓa những hai đêm, nhưng tiếc thay đó chỉ là những đêm chóng vánh đi và đến để trung chuyển chuyến bay Việt Nam – Maroc – Việt Nam. “Nhiệm vụ” chính của chúng tôi khi đến nơi đây là Rick’s Cafe – quán cafe nổi tiếng nhất Kaẓa có cây cọ dừa tí hon trước cửa cách đây hơn một thập kỷ giờ đã lớn tồng ngồng. Rick’s Cafe đưa chúng tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, tôi cũng không biết đó là bất ngờ tốt hay bất ngờ không tốt. Mà thật ra, Maroc nói chung đã đưa chúng tôi đi qua rất nhiều bất ngờ mà tôi sẽ kể hồi sau.
Khi lên kế hoạch hành trình, chúng tôi biết Rick’s Cafe yêu cầu phải đặt bàn trước, và chúng tôi cũng nhận được một danh sách dài dằng dặc yêu cầu tuân thủ trang phục của họ: không dép lê, không dép cao su, không quần áo rách rưới hợp mode, không áo ba lỗ, không quần short, không áo cổ khoét sâu, không để vai trần, không áo thun có logo công ty hoặc mang nội dung quảng cáo, không váy ngắn trên đầu gối, không quần kaki túi hộp, không giày thể thao, không đồ thể thao, không ba lô. Việc tìm trang phục để đi ăn tối ở Rick’s Cafe còn khó hơn cả việc lên kế hoạch hành trình. Vậy mà đến nơi thì dù chúng tôi đặt mãi mới được suất 09:30PM cũng được vào luôn lúc 08:30PM khi ánh hoàng hôn bên Hassan II Mosque đã tắt hẳn. Và một trong số chúng tôi dẫu không theo “luật chơi” của Rick vẫn được mời vào dùng bữa. Nhưng tôi cũng nghe nói, họ đã từ chối rất nhiều người không tuân thủ quy định trang phục và thường xuyên hết chỗ. Lạ kỳ! Rick’s Cafe những tưởng đắt đỏ vô cùng nhưng hoá ra cái giá ở đây lại vô cùng dễ chịu. Mỗi người chúng tôi chỉ phải chi trả 600,000₫ cho một bữa yến tiệc có đủ khai vị, món chính và hẳn một chai rượu Maroc Terre Rouge thơm ngon vô cùng. Khẩu phần ở đây to đến mức bọn tôi gần như ai cũng phải thừa đồ ăn.
Tiếng đàn dương cầm Pleyel 1930 (3) vang vọng từ tầng dưới bản “As time goes by”. Những thước film trắng đen của bộ film Casablanca được trình chiếu xuyên suốt. Những chiếc đèn bàn, đèn chùm bằng đồng thủ công tinh xảo được đặt đúng chỗ hắt lên tường những hình thù nhảy nhót, làm cho Rick’s Cafe trở nên lộng lẫy lắm khi đêm về. Ánh đèn vàng tù mù ôm lấy những ả đàn bà đang lả lơi cười rúc rích và những gã đàn ông đang ngả ngớn vừa tán tỉnh chút tình vừa hút cigar bên quầy bar. Không khí của Casablanca thời Đệ nhị thế chiến được tái hiện lại lịch lãm và tài hoa qua bàn tay của bà chủ tóc bạch kim có cái tên thiệt Mỹ. Bà đi chào từng bàn chúc thực khách ngon miệng. Tiếc thay, bà không phải gã Bogart bất cần đời trong tiểu thuyết mà những kẻ mộng mơ như tôi kiếm tìm khi đến Rick’s Cafe. Mà tôi tin rằng bà chủ cũng đã một thời mê đắm lắm câu chuyện tình đẹp đẽ của Rick và Ilsa.
Tôi đã từng ước mơ rất nhiều năm về trước, sẽ đặt chân đến Casablanca trước khi kết thúc cuộc đời độc thân của mình vì viển vông một cuộc hôn nhân viên mãn. Tương truyền rằng, bất cứ cô gái nào đến viếng thăm Kaẓa trước lễ cưới sẽ mãi mãi hạnh phúc, như chuyện tình mỹ miều của Rick và Ilsa. Tôi cũng không biết điều đó có thật hay không, nhưng tôi tin đó đã là một động lực giúp tôi đặt chân đến Maroc. Maroc không chỉ có Casablanca, và Casablanca không chỉ có Rick’s Cafe.
Casablanca có Hassan II Mosque. Hassan II Mosque đẹp hơn cả câu chuyện tình của Rick và Ilsa. Ngôi đền thờ Hồi giáo đẹp tuyệt trần như một nàng công bước ra từ Nghìn lẻ một đêm. Là ngôi đền thờ Hồi giáo lớn thứ nhì cả lục địa đen, là ngôi đền thờ Hồi giáo lớn thứ 13 toàn thế giới, là ngôi đền thờ Hồi giáo có toà tháp cao nhất thế giới toả sáng hướng về Mecca, là ngôi đền thờ Hồi giáo hiếm hoi mở cửa đón chào du khách quốc tế dẫu theo khung giờ nhất định, Hasan II Mosque quả thực có quyền hạch sát bất cứ kẻ lãng du nào quá bộ thăm nàng. Nàng đẹp quá trời đất! Cái đẹp làm tôi choáng váng cả khi hoàng hôn buông và cả khi mặt trời đã lên cao quá đỉnh đầu. Giá vé để vào thăm quan Hassan II Mosque những 250,000₫/người và chỉ duy nhất từ khung giờ 10:00hrs-11:00hrs. Chúng tôi phải đi theo đoàn tiếng Pháp, tiếng Anh hoặc tiếng Đức, đi lạc một centimeter khỏi đoàn để thơ thẩn cũng sẽ bị thổi còi tuýt tuýt ngay. Du khách phải đi trên thảm đã trải sẵn để tránh làm vấy bẩn sàn gạch cẩm thạch hay khu vực dành riêng cho người Hồi Giáo.
Nếu Maroc là một bộ sưu tập thời trang của nhà thiết kế lừng danh người Pháp Michel Pinseau (4) thì Hassan II Mosque là bộ haute couture (5) vĩ đại nhất trong sự nghiệp của ông. Vua Hassan II đã tham vọng xây dựng một công trình lịch sử nhất Maroc, và Hassan II Mosque đã hoàn thành được sứ mệnh đó. Nàng được thực hiện tỉ mẫn hơn 07 năm ròng (hơn 50 triệu giờ) bởi hơn 6,000 nghệ nhân Maroc và 35,000 công nhân. Nàng khoác lên mình bộ cánh dệt bởi đá granit địa phương được khai thác trên toàn đất nước Maroc, thạch cao vững chãi, đá granit Ý nhập khẩu, gỗ, đá cẩm thạch, đồng và cả titanium. Nàng được điểm tô bên trong bởi từng chi tiết mỹ thuật đối xứng hoàn hảo, từng viên đá mosaic li ti, 56 chiếc đèn chùm pha lê lấp lánh và sự kết hợp vô cùng ăn ý giữa kiến trúc thanh lịch của Pháp và thần bí của Ả Rập.
Đâu chỉ có thế, nàng còn rộng rãi và to lớn đủ để chào mời 25,000 con chiên Hồi giáo cầu nguyện bên trong giáo đường và 80,000 con chiên Hồi giáo viếng thăm bên ngoài giáo đường. Nàng sở hữu madrasa (trường học Hồi giáo), hammams (nhà tắm công cộng), viện bảo tàng lịch sử Maroc, hội trường hội nghị, 41 đài phun nước và thư viện Hồi giáo được mệnh danh là thông thái nhất thế giới Ả Rập dành cho tất cả những kẻ hành hương, lẫn những kẻ ngoại đạo như tôi. Hoàng hôn bên bờ biển Đại Tây Dương bao trùm cả Hassan II Mosque làm nàng đẹp vô cùng. Tôi luôn dành một tình yêu đặc biệt cho hoàng hôn Ả Rập, vì nó đã từng gắn bó chặt chẽ lắm với những năm tháng trưởng thành của tôi. Tôi ước gì hình ảnh bình yên của ông bố đang vui đùa cùng với ba đứa trẻ con khi hoàng hôn đang rực rỡ nhất mà tôi đã thấy ngày ấy được chia sẻ tràn lan trên mạng xã hội, thay vì những tin tức khủng bố giật gân từ những kẻ phản đạo Hồi giáo. Mặt trời tròn trịa và chói loá trên bầu trời ngày hôm đó là một sự khẳng định lần nữa tình yêu mà tôi luôn dành cho thế giới Ả Rập.
Mùi hành tây xào từ món Tajine từ những căn trên đại lộ Sour Jdid thơm lừng. Đám trẻ nhỏ vẫn còn dở dang một trận bóng, chắc là sẽ về nhà quây quần bên bố mẹ sớm thôi. Imam (7) đã đọc những tiếng kinh cầu phát ra vang vọng từ Hassan II Mosque. Còn tôi cũng đã gửi đi một tấm bưu thiếp ghi lại từng lời ca trước khi rời khỏi Casablanca:
“A kiss is still a kiss in Casablanca
But a kiss is not a kiss without your sigh
Please come back to me in Casablanca
I love you more and more each day as time goes by” (7)






(1): Maroc là thành viên của liên đoàn Ả Rập, liên minh Địa Trung Hải và liên minh châu Phi. Maroc cũng là nước có nền kinh tế phát triển thứ 05 trên cả châu Phi.
(2): đi du lịch vòng quanh bằng xe
(3): Pleyel là nhà soạn nhà người Pháp gốc Áo, đã chế tạo ra đàn piano.
(4): kiến trúc sư người Pháp đã thiết kế Hassan II Mosque
(5): tính từ đại diện cho sự xa hoa, đằng cấp không gì sánh bằng của thế giới thời trang
(6): người đứng đầu nhà thờ Hồi giáo và cộng đồng Hồi giáo trong khu vực
(7): trích lời bài hát Casablanca
———-
Chúng tôi đã dừng chân ở Fez.
Tôi đã ghi lại rất vội trong đêm muộn ở Dar Elinor về Fez thế này:
“Fez – điểm dừng chân Unesco trong hành trình của chúng tôi trước khi lái xe 08hrs để hướng về một phần của Sahara.
Fez – nơi được gọi là Athens của châu Phi và Mecca phương Tây.
Tường thành Fez – nơi chúng tôi đã bất chấp nỗi sợ độ cao chênh vênh bên tường thành muốn tè ra quần để có một tấm ảnh để đời.
Fez – nơi chúng tôi bị lạc như “ý nguyện” “Let’s get lost” và chúng tôi không bao giờ có ý định “chơi dại” như vậy lần nào nữa.
Fez – nơi chắc chắn tôi có đủ cảm xúc cho một bài viết hay.”
Nếu có một nơi nào đó tôi thực sự muốn quay trở lại tại Maroc, đó sẽ là Fez và chỉ Fez mà thôi. Fez cũ kỹ và già cỗi lắm rồi, vì Fez là một trong những cố đô của Maroc và là nền tảng của Maroc ngày nay. Idriss I (1) đã thành lập nên Fez từ thế kỷ VIII và để lại cho nhân gian một di sản Ả Rập-Berber hoà trộn. Người ta bảo, đến Fez chỉ để lạc lối. Ai đó đã “xúi giục” chúng tôi hãy đi bộ vòng quanh 2,5hrs ở Fez, bắt đầu từ quảng trường Batha và cánh cổng cửa ngõ dẫn vào thành cổ Fez. Ngày chúng tôi đến Fez, trời mưa u ám và mọi thứ thật nhớp nháp.
Tôi đã từng “ghét” Fez vô độ vì cái sự ẩm thấp, dơ bẩn, vắng vẻ, rêu phong và khai ngấy mùi nước đái mèo khi chúng tôi thực sự bị lạc trong những con hẻm nhỏ lắt léo. Tôi đã từng “ghét” Fez vô độ vì cái sự sỗ sàng của vài ba thanh niên choai choai ra oai với chúng tôi ở cổng thành. Tôi đã từng “ghét” Fez vô độ vì Dar Elinor đã huỷ đặt chỗ của chúng tôi 01hr đồng hồ trước khi nhận phòng. Tôi đã từng “ghét” Fez vô độ vì Clock Cafe vừa dở vừa đắt chẳng như blogger du lịch nào đó đã tả, đã thế đĩa salad gà của chúng tôi còn bị “độn” fig (2) nhiều hơn gà. Tôi đã từng “ghét” Fez vô độ vì cả bọn chúng tôi phải hối hả chạy về nhà trước khi toàn bộ cổng thành đóng rồi mới phát hiện hoá ra Dar Elinor nằm ở trong thành. Tôi đã từng “ghét” Fez vô độ vì ở Fez hoá ra chẳng có gì ngoài bab (cổng thành). Tôi đã từng “ghét” Fez vì trời mưa lạnh căm và năm con người chúng tôi co ro trong cái mê cung mang tên Fez chẳng lần mò được lối ra.
Vậy mà khi mưa đã thôi rơi, thì tôi mới có thời gian luyến tiếc tự hỏi vì sao Fez chỉ là một điểm dừng chân.
Tôi đã không còn ghét Fez nữa vì Fez là đế chế đồ da. Chúng tôi đã “sà” vào một hàng da chất lượng mà mọi thứ đều quá rẻ, quá rẻ so với tưởng tượng. Từ giày dép, đến ví to, ví nhỏ, túi xách, hộp bút, bao đựng thuốc lá, hộp đựng tiền xu có khi chưa bằng một bữa ăn sáng ở nhà. Đi mãi mới biết, Fez là nơi bán đồ da làm bằng tay tỉ mẫn, giá cả hợp lý và tốt nhất Maroc.
Tôi đã không còn ghét Fez nữa vì khi chúng tôi bị lạc đến mỏi trong những con hẻm cứ tưởng là bỏ hoang, thì có những cụ ông, cụ bà sành sỏi tiếng Pháp dẫn chúng tôi ra tận trung tâm chợ, dẫu lối họ đi là ngược hướng.
Tôi đã không còn ghét Fez nữa vì những con hẻm nhỏ khai ngấy mùi nước đái mèo ấy được cư dân vẽ rất nhiều bức tranh tươi vui làm ngày mưa đã thôi ảm đạm. Những căn nhà vách mỏng san sát nhau hứa hẹn hàng trăm câu chuyện thêu dệt của đời sống địa phương tô màu xanh da trời đầy hy vọng và an lành.
Tôi đã không còn ghét Fez nữa vì bạn Mohamad của Dar Elinor là một chàng trai cao to hiền dịu, đã tận tâm chuẩn bị phòng 04 giường cho chúng tôi, khuân vác toàn bộ 04 cái valise nặng như đá bù đắp cho sự thiếu sót của anh chàng, với cái giá chỉ có 200,000VND/người và kiên quyết không nhận tiền boa.
Tôi đã không còn ghét Fez nữa vì Fez đã mở thêm một trời kiến thức cho chúng tôi về medina (thành cổ) và 12 cái bab (cổng) bao quanh Fez: Bab Lamar, Bab Semmarine, Bab Riafa, Bab Lahdid, Bab Jdid, Bab Ftouh, Bab Khokha, Bab Sidi Boujida, Bab Guissa, Bab Ain Zleten và Bab Mahrouk. Chúng tôi cũng có lúc bỏ qua lời khuyên lạc lối của blogger nổi tiếng nào đó, mà tự lạc theo lối riêng của chính mình.
Tôi đã không còn ghét Fez nữa vì công tâm mà nói thì món gà chiên mật ong ở Clock Cafe rất ngon, và vì chúng tôi đã có những trận cười thả ga bình phẩm nhảm nhí bàn kế bên. Còn gì an ủi hơn khi lạc lối có “đồng bọn”?
Tôi đã không còn ghét Fez nữa khi Fez vắng vẻ, cổ kính và cũ kỹ sau màn mưa. Fez dành đủ không gian cho một kẻ lữ hành như tôi chiêm nghiệm một thành phố, một đất nước. Ở Fez, chẳng có ai chắn tầm nhìn, chẳng có ai tranh nhau một chỗ chụp ảnh, chẳng cần cảm giác ngó nghiêng sợ mất đồ dù rằng Fez thu hút trăm, triệu khách du lịch hàng năm. Hẳn là vì cơn mưa chiều trái khuấy.
Và tôi đã yêu mến Fez khi đứng trên tường thành cheo leo nhìn xuống một mê cung cổ hỗn độn. Đó là một trong những hình ảnh rộng lớn khác của châu Phi mà chẳng quốc gia nào của châu Phi sánh được. Đó là một trong những hình ảnh rộng lớn khác của châu Phi mà tôi chưa bao giờ được biết đến trước đó. Cái sự lộn xộn đẹp đẽ đó thôi thúc tôi quên đi nỗi sợ độ cao mà trèo mãi, trèo mãi đến điểm cao nhất của tường thành lộng gió. Bên trái là những bãi cỏ xanh rì, là những ngôi mộ của Muhammad lí nhí trắng tinh, là những thảo nguyên phủ đầy cây xanh dưới bầu trời cao. Bên phải là tất cả thành cổ Fez đã ở đó từ hơn thiên niên kỷ, chi chít những căn nhà sát vách mái đỏ, mái xanh, mái vàng. Bên dưới là hàng trăm tấm da dê thô có, nhuôm xanh đỏ có xộc lên một mùi đặc trưng khó chịu nhưng nghiện ngập, có chú bé chăn lừa đang vuốt ve trìu mến người bạn bốn chân của mình, có người đàn ông già đang giũ mạnh những miếng da vừa nhuộm bên kia đồi. Một tấm da dê ở đây chỉ có giá 300,000 đồng chưa trả giá.
Những cánh đồng hoa dại đung đưa trong gió, con đường mòn uốn lượn bao quanh, bức tường thành sừng sững mặc thời gian và đời sống nhấp nhô của Fez medina đằng xa xa kia đang được bảo vệ bất khả xâm phạm bởi mạn Đông Bắc của dãy Atlas kia kìa.
Tôi đã lọt thỏm trong một khung hình vô phép tắc mà cả đời này tôi cũng sẽ không quên được.
Rời khỏi Fez để tiến về Sahara, tôi chỉ có hai điều ước. Tôi ước gì mình đã có nhiều thời gian hơn để đến thăm Tanners’ Quarter hôi rình muộn nhuộm da đặc trưng của Fez. Tôi ước gì mình lạc lối nhiều hơn ở Fez trong một ngày ráo hoảnh.







(1): Idriss I là cháu cố của Hassan ibn Ali, người đã thành lập nên vương triều Idrisid – vương triều Ả Rập-BerBer trị vì từ năm 788 đến năm 974, là vương triều khởi đầu cho sự hình thành của Vương quốc Maroc. Cố đô đầu tiên được đặt tại Fez.
(2): fig được xem là một loại sung ngọt phổ biến ở các nước phương Tây, khác với sung Việt Nam.
———-
Chúng tôi đã dừng chân ở Skoura.
Skoura chẳng có gì cả, theo đúng nghĩa đen của nó. Skoura là một điểm dừng chân thực sự (vì chúng tôi chỉ ở đây ăn và ngủ) trong lộ trình tiến về Marrakech. Skoura đi từ đầu con đường đến cuối con đường hơn 500 metre đã trọn vẹn. Thậm chí Wikipedia chẳng có gì để viết thêm về Skoura, ngoài việc Skoura là một thị trấn nhỏ xíu thuộc Ouarzazate. Còn tôi thì chẳng có gì để viết về Skoura cả ngoài Chez Laila (trong tiếng Việt nghĩa là “Ở cùng với Laila”), đơn giản chỉ vì cô chủ nhà tóc xoăn tít năng động tên là Laila.
Cô nấu ăn cực kỳ ngon, đặc biệt là khi chúng tôi đã ngấy các loại tajine trong thực đơn đặc sản của Maroc. Vậy mà, món tajine bò hầm của cô thơm vị mận, đậm đà nhưng không hề hăng mùi thì là Ai Cập – cái mùi thảo mộc mà chúng tôi thực sự sợ trong mỗi món ăn truyền thống. Salad bơ cô trộn béo vị mayonnaise đều đến miếng cuối cùng, chứ không hề đọng lại vị mặn nào dưới đáy đĩa. Chúng tôi thực sự đã “chén” đến miếng cuối cùng đấy. Thịt cừu cô hầm chín tái mềm, ngon ngọt, cắt nhẹ miếng nào ra miếng đấy chứ không cần dùng sức ấn dao, nĩa quá mạnh. Và món lagsana cô làm chắc là ngon nhất thế gian. Tôi không biết do đã không ăn được đồ Ý ở nửa hành trình Maroc, hay vì nó thực sự là món lagsana ngon nhất thế gian. Song khi ngẫm nghĩ về từng lớp phô mai kéo lên thì dai từng sợi, bề mặt cháy xém tuyệt hảo, trong khi nhân thịt bên trong thì chín tới và cà chua vừa lượng cho khỏi ngấy thì tôi thực sự tin rằng chẳng có món lagsana nào tôi đã từng ăn qua lại ngon như món lagsana nhà làm của cô Laila. Tôi kết thúc bữa ăn ngon đến miếng cuối cùng bằng kem nougat cũng nhà làm nốt. Viên kem mang tên hạnh phúc rõ vị hạnh nhân, đậu, sệt lòng trắng trứng và quan trọng nhất là không hề ngọt gắt. Chỉ vì đã ăn món kem nougat của cô Laila mà những điểm dừng chân sau đó, tôi hầu như luôn kết thúc bữa ăn của mình với món tráng miệng bằng kem nougat. Dĩ nhiên là chẳng nơi đâu đã có công thức nhà làm tuyệt vời như cô Laila.
Chez Laila là một nơi dừng chân lý tưởng, là một biệt thự vùng quê đúng nghĩa. Ánh nắng chiều nơi đây không gắt gỏng miền hoang mạc mà nhẹ nhàng, bình dị. Chúng len lỏi qua từng khung cửa sổ được đóng với gout rất riêng, hắt lên bức tường đỏ bức tranh tĩnh vật đồng quê ấm áp. Sáng sáng chúng tôi được đánh thức bởi tiếng chim ríu rít đã được Mẹ Thiên Nhiên chọn lọc kỹ càng. Tuyệt nhiên chẳng có bất cứ âm thanh xô bồ nào khác chen ngang. Chez Laila có khu vườn đáng yêu với những bông hồng khổng lồ và cây cầu gỗ dẫn vào hiên nhà rải sỏi hai bên. Trong vườn bày biện năm, bảy bộ bàn ghế đủ sức chứa cho khách gia đình như đoàn chúng tôi. Trong vườn có những mái lều dựng cho khách ngồi thưởng chút trà chiều, hút vài ba điếu cigar đắt đỏ, trông dung dị nhưng lại kiêu kỳ chẳng kém Sex & the city II (1). Trong vườn có một hồ bơi nhỏ làm dịu mát bầu trời bỏng rát mùa hè Bắc Phi. Chez Laila còn có một phòng ăn ấm cúng trong nhà phục vụ bữa sáng đủ chất và món yoghurt chua chua ngọt ngọt khó quên. Chez Laila hiếu khách và dễ mến đến độ dành tặng một phòng cho tài xế của chúng tôi – Hassan, chứ chẳng hề trịch thượng như những riad (2) mà chúng tôi đã từng lưu lại.
Cô Laila biết nấu ăn thật ngon và có một dinh thự thật đẹp đón chào những vị khách phương xa ở một nơi đặc biệt an yên, thì sá gì nhân gian nữa. Cô bảo cô chẳng biết sao càng ngày lại càng có nhiều khách châu Á đặt phòng ở dinh thự của cô trong vòng một năm đổ lại đây, mặc dù cô chẳng quảng cáo gì và nhà của Laila thì ở tận một nơi ẩn náu xa thiệt xa khỏi bụi bặm thị thành.
Xem ra thì tôi thực sự phải quên đi món lagsana của cô để mà không phải so sánh về sau…





(1): series film truyền hình và điện ảnh nổi tiếng của Mỹ. Trong phần II tập điện ảnh, có phân đoạn quay ở Abu Dhabi rất giống với hình ảnh ở Chez Laila.
(2): riad là những căn nhà cổ được cải tạo là thành khách sạn truyền thống ở Morocco.
———-
Còn bao nhiêu ốc đảo chúng tôi đã đi qua trên đường đi mà tôi chẳng thể gọi tên, thậm chí đi sâu cả vào bên trong để cảm nhận “resort” của lạc đà sa mạc.
Còn bao nhiêu hồ xanh thần tiên có nguồn nước luôn ấm 60 độ, nằm ven đường mặc kệ những con đường nhựa uốn lượn ngoằn nghèo và những chiếc xe tải rầm rập chạy qua.
Còn bao nhiêu cánh đồng đầy cừu và dê xanh thăm thẳm, có những kẻ du mục đánh cừu chạy nhốn nháo từ trên đỉnh đồi.
Còn bao nhiêu hoang mạc và những cái cây đơn độc mạnh mẽ tự sinh tự diệt giữa vũ trụ bao la.
Còn cái viện bảo tàng hoá thạch nào đó chơ vơ nghiên cứu đá hoa hồng, sam, sò và những con ốc anh vũ hoá thạch đã 225 triệu năm ở giữa cửa ngỏ vào Sahara. Nơi này cho tôi cảm giác như thể họ là một viên nghiên cứu quan trọng bậc nhất của nhân loại hay xuất hiện ở cuối mỗi một bộ film tận thế bom tấn.
Còn Tizi N’Tichka – cung đường nguy hiểm nhất nhì thế giới, cửa ngõ vào sa mạc Sahara – đang uốn lượn quanh co ngoạn mục. Đứng từ trên điểm cao nhất của Tizi N’Tichka nhìn xuống, tôi có cảm tưởng mình đang xem trọn bộ mô hình xe hơi đang chạy băng băng trên một cung đường đua được dựng hoàn hảo, bày bán trong các cửa hàng đồ chơi đắt tiền. Gió thổi lạnh thấu xương thịt, khung cảnh trập trùng hùng vĩ của dãy Atlas làm bất cứ ai cũng phải khiếp sợ trước sức mạnh khó lường của Mẹ Thiên Nhiên, và nể phục ý chí xẻ núi đào đường của đất nước Bắc Phi lạ kỳ này.
Còn Thung Lũng Hoa Hồng (El Kelaa M’gouna) đã làm chúng tôi thất vọng khi mùa hoa hồng chỉ vừa chớm nụ. Dãy nhà hai bên đường đi đều là những cửa hàng bán sản phẩm hoa hồng: dầu hoa hồng, nước hoa hồng, sữa tắm hoa hồng, dầu gội đồng hoa hồng, nước hoa mùi hoa hồng, cơ số mỹ phẩm tinh chất hoa hồng, … Đây có lẽ là một thung lũng sực nức nhất mà tôi đã từng biết. Người ta đã nói quả không sai, bạn chỉ có thể nhận biết bạn đã đến El Kelaa M’gouna qua mùi hương của nó. Những người đàn ông đàn bà chưa đến mùa vụ thảnh thơi hái hoa, những gã thanh niên tết vòng hoa đứng chào mời khách lữ hành dọc đường đi, còn con nít nhỏ chắc đã đến trường học Roses hết rồi. Rồi họ sẽ bận rộn lắm vào giữa những ngày tháng Năm đây.
Còn khe Todra Gorge hùng vĩ như đúng film trường của bộ film 300. Những khe núi hẻm đá vôi này là nơi sinh sống của những con người Berber còn sót lại. Hassan nói, họ kỳ thị người Ả Rập và phản kháng yếu ớt bằng cách không trò chuyện, giao thương gì với bất cứ ai nói tiếng Ả Rập. Todra Gorge là nơi leo núi lý tưởng cho những ai ưa thích trò vận động mạo hiểm. Vài ba người khách Tây phương đang tụ tập móc dây, leo núi và í ới gọi nhau kiểm tra độ an toàn. Todra Gorge có những kinh nghiệm mua sắm thật vui, những tấm thảm đan tay đủ màu sắc treo dọc hai bên núi, và dòng sông đá vôi mát lạnh đang chảy róc rách ven đường.
Còn Aït Benhaddou – Yunkai trong series bom tấn Trò chơi vương quyền (Games of Throne) – là một ksar (1) nằm dọc con đường caravan rất cũ giữa Sahara và Marrakech ngày nay. Nói tôi đến Maroc và vẽ một vòng quanh Maroc vì Aït Benhaddou cũng đúng. Tôi luôn tự hào là một “fan” cứng của Trò chơi vương quyền. Nhưng Aït Benhaddou vừa nắng ong ong đầu, lại mưa ào ào rất trái khuấy. Ngôi làng kiên cố Aït Benhaddou giờ chẳng còn ai ở. Người ta chỉ nhân khách du lịch mà tập trung bán buôn chút hàng lưu niệm ban ngày. Người ta khắc một tảng đá vôi thành mô hình Aït Benhaddou thu nhỏ. Người ta vẽ những bức vẽ bằng acrylic rồi đốt cháy bùng bùng để hoàn thiện một bức tranh về Aït Benhaddou. Người ta cũng chiếm lấy những con hẻm nhỏ tối om khai ngấy mùi nước đái mèo bất chấp làm nơi ngả lưng trốn tránh cơn say nắng.
Còn Ouarzazate và bảo tàng điện ảnh lạ kỳ. Người ta gọi Ouarzazate là kinh đô Hollywood của Maroc vì những ngóc ngách điện ảnh vô cùng. “Sa mạc Sahara”, “Võ sĩ giác đấu”, “Xác ước Ai Cập” và hằng hồ vô số những bộ film nổi tiếng khác đều đã được quay ở đây. Những bộ phục trang cũ mèm, những cái máy quay chẳng ai còn dùng nữa, những chiếc ngai vàng bỏ trống phủ bụi, những căn ngục thất tối tăm, những bức chân dung của các ngôi sao nổi tiếng, và rất nhiều các đạo cụ cũ kỹ đến mục nát khác đều được trưng bày ở đây. Bên ngoài là khu vườn dây leo phủ đầy hoa được tỉa tót cẩn thận, luôn trong tâm thế sẵn sàng cho một bộ film sử thi hoành tráng nào đó trong tương lai thật gần.
Còn thủ đô Rabat và toà tháp Hassan đá sa thạch đỏ dở dang như những miếng bánh bích quy khổng lồ bị ai ăn vụng.
Còn Ifrane đóng tuyết nằm giữa dãy Atlas và những con khỉ ú na ú nần đang làm trò cho du khách. Ifrane là phiên bản đúp châu Âu hoàn hảo nhất trên toàn lãnh thổ Maroc. Những toà nhà, khách sạn đậm chất Pháp, những hàng bạch dương trụi lũi khẳng khiu trật tự xếp hàng dẫn lối vào những dinh thự nghỉ dưỡng mùa hè của người Pháp. Nghe đâu hoàng hậu Nam Phương có rất nhiều bất động sản rải rác khắp Maroc, tôi đồ chắc hẳn bà cũng đã từng có một căn nhà vườn nho nhỏ ở đây. Tôi đã lao vào cái lạnh rét căm cùng những cơn gió 7 độ mà gửi đi vài tấm bưu thiếp từ cái bưu điện duy nhất ở Ifrane.















(1): ksar nghĩa là lâu đài hoặc một tường thành kiên cố trong tiếng Ả Rập.
———-
Một cung đường hoàn hảo như vậy, là nhờ hoàn toàn vào người tài xế. Tôi chưa bao giờ viết về ai đó bằng rất nhiều ngữ từ, nhưng tôi sẽ viết Hassan – chàng tài xế lãng tử của chúng tôi bằng tất cả ngữ từ chân thật nhất.
Hassan khác xa so với tưởng tượng của chúng tôi ban đầu: béo lùn, chỉ biết lái xe không biết gì, đứng tuổi và đậm chất truyền thống Hồi giáo.
Hassan ở thực tế của chúng tôi chỉ mới 27 tuổi, để râu quai nón phong trần, cao to vạm vỡ, sạch sẽ đến mức thái quá (vì ngày nào cũng đi rửa xe), nói được sáu ngôn ngữ: Berber, tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, cực kỳ thông minh, chín chắn hơn so với độ tuổi của mình, khẳng khái, trung trực, đã có hai đời vợ: cô vợ đầu 16 tuổi và cô vợ hiện tại 21 tuổi và anh yêu vợ của mình. Hassan là một người Berber – những kẻ du mục đầu tiên của loài người.
Hassan đã cãi tay đôi ra ngô ra khoai với gã bán hàng ở khe núi Todra Gorge vì gã bán cho chúng tôi một cái đồng hồ cổ chết máy cái giá mà theo anh nghĩ là “cắt cổ” du khách.
Hassan luôn hiểu ý của chúng tôi muốn gì qua ngữ điệu, ánh nhìn, thời điểm và lẳng lặng điều chỉnh đúng yêu cầu mặc dù chúng tôi luôn ngại ngùng nên chỉ trao đổi giữa chúng tôi với nhau bằng…tiếng Việt.
Hassan luôn chiều theo mọi sở thích mua sắm vô tội vạ của chúng tôi, dù chúng tôi có bị trễ hành trình hơn so với dự kiến đến đâu chăng nữa.
Hassan không phải là một gã tài xế ăn “hoa hồng” ở bất cứ cửa hàng nào anh chở chúng tôi đến, anh càng không chở chúng tôi đến những quán ăn gia đình. Mặc dù nếu anh làm điều đó, chúng tôi cũng hoàn toàn thấu hiểu.
Hassan mặc kệ những lời tán tỉnh, “thả tim” trên đường đi của những cô gái mới lớn. Khi chúng tôi trêu chọc, anh chỉ bẽn lẽn trả lời, “Tôi yêu vợ mình”.
Hassan chưa bao giờ tỏ thái độ khi ngày cuối cùng chúng tôi chẳng gửi anh chút tiền boa nào. Do chúng tôi muốn gửi tặng anh một chiếc phong bì cảm ơn chân thành vào giây phút cuối cùng ở sân bay cơ.
Ngày chúng tôi ngồi quây quần cùng nhau ở Chez Laila, anh đăm chiêu kể về ngôn ngữ của người Berber đã mất, cuộc sống du mục của gia đình anh ở sa mạc và thật buồn khi anh không thể mang vợ mình đến sống cùng ở Marrakech. Anh cảm ơn chúng tôi đã lưu lại Sahara hai ngày mà không dùng tài xế, để anh có thêm thời gian ở cạnh gia đình. Anh cảm ơn chúng tôi đã chịu khó chờ anh một giờ đồng hồ (thực chất chúng tôi chỉ là ăn trưa lâu hơn bình thường), để anh có thời gian chạy vào bênh viện thăm cô em gái ruột vừa sinh.
Mọi thứ ngôn ngữ anh nói lưu loát ngày hôm nay, anh đều tự học từ công việc lái xe và…internet, đặc biệt là Berber vì anh không muốn là một kẻ chẳng biết được ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Tôi tin người đàn ông sáng dạ này chắc chắn sẽ thành công vượt bậc nếu anh được sinh ra ở một nơi khác, với một số phận khác.
Hassan chỉ có một mong muốn được đến thăm Tây Ban Nha một ngày nào đó, dẫu Tây Ban Nha chỉ nằm bên kia bờ biển Alboran.
Tôi hy vọng một ngày nào đó anh sẽ thực hiện được ước mơ của mình.
In shāʾa llāh. (1)
Và anh cũng đã kịp viết tên chúng tôi bằng tiếng Berber.

(1): “Nếu đó là điều thánh Allah muốn” trong tiếng Ả Rập.
———-
.::Nat & her journeys::.
