Châu Phi và những câu chuyện chưa kể (IV): “I live, like you are dreaming”

“I live, like you are dreaming” (tạm dịch: tôi sống như cách mà mọi người vẫn thuờng hay mộng mơ) là câu châm ngôn tôi tự đặt ra cho chính mình, để tôi có thể cố gắng hàng ngày, để tôi có thể mặc kệ tất cả mà bước đi trên con đường tôi đã chọn. Thật ra, chẳng cần nói đâu cao vời vợi, chỉ cần có được tự do làm những điều mình yêu thích, dám bỏ ngoài tai dư luận và tin tưởng vào chính bản thân mình, tôi nghĩ đó đã là một cuộc sống bình thường mà rất nhiều người bình thường không chọn sống, nhưng vẫn khát khao.

Đó là những thứ dung dị tôi tự định nghĩa. Còn tôi nghĩ, khi nói về một cuộc sống trong mơ, người ta vẫn cho rằng đó phải là sự xa hoa bậc nhất.

Sun City ở Nam Phi chính là một giấc mơ điển hình như vậy đấy. Sun City ở Nam Phi là một vùng đất tưởng như nơi chốn chỉ dành cho những vị thần. Sun City biến một giấc mơ trần thế nhất trở thành sự thật, vì ở Sun City có quá nhiều thứ chỉ còn có thể tồn tại trong thần thoại. À không, phải là Nam Phi nói chung chứ nhỉ?

—–

14:00hrs:

Cách Johannesburg 2hrs lái xe, Sun City là vùng đất “No Man Land” (được cô quản lý hoạt ngôn người Indonesia giải thích là Vùng đất không thuộc về Vùng đất nào). Được xây dựng từ năm 1979 bởi tập đoàn khách sạn lớn nhất châu Phi Sun International Group, Sun City từng thuộc địa phận Bantustan của Bophuthatswana (1) khi nạn phân biệt chủng tộc (apartheid) vẫn đang diễn ra ở châu Phi. Những vùng đất Bantu ngày nay chỉ còn là lịch sử hoặc sử dụng như cụm từ địa phương bởi chính những con người Bantu. Giờ đây, nó không có một biên giới chính thức. Giờ đây, nó không có bất cứ một sự công nhận quốc tế nào. Sun City là một phức hợp lớn đến nỗi người ta chỉ gọi đó là Sun City – nằm giữa dòng sông Elands và lằn ranh của vườn quốc gia Pilanesberg – trên một lãnh thổ đã từng hiện hữu.

Sun City là một khu vui chơi dành cho mọi tầng lớp từ trung lưu đến thượng lưu, hằng năm đều thu hút lượng khách du lịch khổng lồ từ nội địa cho đến quốc tế. Ở đó có nhà nghỉ bình dân, có khách sạn 3 sao, có khách sạn 4 sao, có khách sạn 5 sao cao cấp và có khách sạn 5 sao siêu cao cấp. Ở đó có bãi biển, có sở thú, có cả hang động ngập tràn những trò giải trí dành cho gia đình, cho trẻ nhỏ, cho thanh niên, cho tình nhân, có sân golf, có hẳn một khu trung tâm thương mại bày bán mọi mặt hàng từ bình dân đến xa xỉ, có một khu siêu thị tiện dụng bán buôn từ đặc sản châu Phi đến kẹo mút đủ màu, có nhà sách, có vô số quán cafe, rất nhiều sự lựa chọn ẩm thực và cả một sòng bạc. Ở đó có xe điện, xe bus, cano, đường bộ, taxi đi lại. Ở đó có chỗ để cắm trại, bể bơi từ nhỏ đến to, hoạt động leo núi, lội suối, vào rừng, nhân tạo đến hoang dã. Ở đó có tất cả. Ở đó hiện đại và rộng lớn hơn cả một thành phố nhỏ bé xinh đẹp nào đó ở châu Âu. Vậy nên người ta đã đặt cho nơi tối thượng nhất trong khu phức hợp Sun City một cái tên mỹ miều “Palace of the Lost city” (tạm dịch: Cung điện của một thành phố đã mất). Tôi nghĩ, cái tên đã ra đời khi Bantustan của Bophuthatswana bị xoá sổ.

Câu chuyện của tôi bắt đầu từ một thành phố đã mất.

Palace of the Lost City là khu khách sạn cao cấp nhất của Sun City. Tôi cam đoan giá tiền không phải là đáp án cuối cùng. Sự đẳng cấp trường tồn đó thể hiện trên từng nét văn hoá, kiến trúc và ý nghĩa đằng sau mà cô tour guide xinh đẹp giải thích cho chúng tôi ngày hôm đó.

Đài phun nước “Cuộc săn mồi của những con báo đốm” (Cheetah Hunt Fountain) là biểu tượng chào mừng đầu tiên khi tôi đặt chân đến Palace of the lost city. Đây là hình ảnh rõ nét nhất về châu Phi, về Nam Phi: những con báo đốm rượt đuổi những con linh dương. Ở châu Phi này, “nếu bạn thức dậy là một con báo đốm, bạn phải chạy cho thật nhanh, không thì sẽ đói”. Ở châu Phi này, “nếu bạn thức dậy là một con linh dương, bạn phải chạy cho thật nhanh, không thì sẽ chết” (2). Sau đó sẽ là đài phun nước Sable (3) chưa bao giờ tắt, bao quanh bởi một vòng tròn những con linh dương được điêu khắc bằng đồng đen thể hiện sự tôn trọng Mẹ Thiên Nhiên và sự hoang dã của bà. Và cánh cổng đá chính thức chào đón khách quý chưa bao giờ đóng đã 25 năm qua chạm khắc những biểu tượng còn lại về lục địa đen.

Những chiếc cột nhà trắng sừng sững như ở Pantheon (4) chống đỡ trần nhà được tô vẽ tỉ mỉ, cầu kỳ và cẩn trọng. Bức tranh về sự sống hoang dã – thứ đặc sản của châu Phi – được lấy cảm hứng từ Sistine Chapel của Michelangelo (5). Ôi, tôi yêu Firenze (6) và sự tinh hoa Phục Hưng này vô cùng, vô cùng.

Chiếc đèn chùm lộng lẫy điểm tô lông vũ chưa bao giờ tắt, hoạt động 24hrs/ngày, 7 ngày/tuần, 4 tuần/tháng, 12 tháng/năm kể từ năm 1992 đính 5000 viên pha lê long lanh đắt giá, để cảm ơn chân thành và sâu sắc đến 5000 nhân viên đã góp phần xây dựng và hoàn thành khu phức hợp Sun City trong 28 tháng.

Những chiếc ghế tựa lưng đặt ở tiền sảnh và hành lang khách sạn được bọc bằng da ngựa vằn và da linh dương thật đã qua xử lý. Thật ra, tất cả loại da này đều là từ động vật đã chết có sự cấp phép của nhà nước sau khi rừng quốc gia báo cáo thương vong của động vật. Điều này chắc sẽ gây tranh cãi, nhưng một lần nữa, tôi vẫn chọn tin vào những điều lạc quan: những tấm da bọc ghế thực sự được xử lý từ những con vật đã chết. Tôi chọn tin vào những điều lạc quan vì nếu không đến Cung điện của những thành phố đã mất, tôi sẽ chẳng thể biết được đã từng có một loại báo đốm sọc dọc đã tuyệt chủng. Loài người – sinh vật tàn ác nhất – đã săn đến tận cùng loài báo đốm quý hiếm. Hay tôi chẳng thế biết được Shawu đã từng có mặt trên hành tinh. Loài voi quý hiếm chẳng thể tự nuôi dưỡng chính mình, hay chống trả kẻ thù vì đôi ngà mọc chồng chéo. Mẹ Thiên Nhiên hẳn đã không yêu tất cả các người con của bà như chúng ta tưởng. Con đường Ngà Voi (path of tusks) là một thánh địa sống động kể lại những câu chuyện về những truyền thuyết hoang dã kể từ khi con người và thú rừng sống dưới một mái nhà. Lâu lắm, lâu lắm rồi…

Chỉ vậy thôi mà tôi nghĩ Palace of the Lost city đã làm tôi choáng ngợp, theo đúng nghĩa đen của nó…

Rồi hơi thở tôi đã bị cướp đi bởi cái đẹp lúc nào không hay, cho đến khi tôi leo lên bậc cuối cùng của cầu thang xoắn ốc đến đỉnh tháp. Giờ thì tôi đã hiểu vì sao Rapunzel (7) vẫn luôn yêu đời hát ca dù bị nhốt một đời trong toà tháp. Người ra gọi cảnh quan trước mắt tôi là Thung lũng của những con sóng (Valley of Waves) vì núi đồi lượn sóng như những bức tranh ngày nhỏ tôi học vẽ. Cô giáo thường hay thị phạm đồi núi lên xuống, dập dìu đến hoàn hảo của như con sóng êm ả. Những nơi núi rừng tôi đã đi qua, nơi nào cũng trập trùng và nhấp nhô chứ chẳng đều đặn được như ở Thành phố đã mất này. Liệu có phải vì thế nên nó mới như mơ? Cây cối xanh rậm rạp, rì rào trong gió làm cho người ta quên đi mất cái hà khắc và hoang mạc của châu Phi. Có đôi chim cuckoo thảnh thơi ngắm cảnh, sưởi chút nắng hè châu Phi ngược chiều thế giới. Ờ thì, Nam Phi là đất nước giàu có nhất châu Phi đấy, nhưng có ai ngờ đâu nó lại quá lộng lẫy thế này?

—–

12:00hrs:

Chúng tôi đã ghé thăm Đài tưởng niệm Voortrekker, nằm ở thủ đô Pretoria. Voortrekker trong tiếng Afrikaans có nghĩa là “những người đi về phía trước” – ám chỉ những người Hà Lan đầu tiên đã di dân đến Nam Phi từ những năm 1834, trốn chạy khỏi mũi thuộc địa Anh quốc (British Cape Colony).

Những bậc cầu thang vòng cung một chiều dẫn lối tôi đến nóc đài tưởng niệm. Khi nhìn xuống, tôi thật sự bị thôi miên bởi miếng đá cẩm thạch phù điêu đẹp mê hoặc (8). Trước mắt tôi là một bức vẽ hoa văn không có khuyết điểm đã được ai tô màu đỏ trắng thật đều tay. Vậy mà loại cẩm thạch hiếm hoi trên thế giới lại chưa phải là điều đặc biệt nhất. Hằng năm, đúng 12:00hrs ngày 16/12, ánh mặt trời soi rọi vào lỗ hổng duy nhất trên nóc đài tưởng niệm, xuyên qua cái giếng trời khổng lồ, tô ánh sáng tưng bừng như ai đó lấy bút dạ quang nhấn mạnh dòng chữ “Ons vir Jou, Suid-Afrika” (tạm dịch bằng tiếng Anh: “Us for you, South Africa”) như một lời ban phước lành của Chúa.

Ngày 16/12/1838, The Battle of Blood River (Tạm dịch: Trận chiến của dòng sông máu) đã diễn ra. Đây là trận chiến lớn nhất lịch sử Nam Phi giữa 470 Voortrekkers – dẫn đầu bởi Andries Pretorius (9) – và 15,000 chiến binh Zulu – dẫn đầu bởi những vị hoàng tử Zulu. Cuộc chiến còn kéo dài mãi về sau nữa, nhưng trong năm 1838, 3000 chiến binh và hai vị hoàng tử thừa kế ngai vàng của Zulu thiệt mạng còn những vị tướng dũng mãnh đầu đàn bao gồm cả Pretoria chỉ bị thương nhẹ. Lịch sử đã ghi rõ lại rằng “The year 1838 was the most difficult period for the Voortrekkers since they left the Cape Colony, till the end of the Great Trek. They were plagued by many disasters and much bloodshed before they found freedom and a safe homeland in their Republic of Natalia. This could only be achieved by crushing the power of the Zulu King, Dingane, at the greatest battle ever fought in South Africa, namely the Battle of Blood River, which took place on Sunday 16 December 1838” (tạm dịch: năm 1838 là thời kỳ khó khăn nhất cho Voortrekkers kể từ khi họ rời bỏ mũi lục địa đến tận khi kết thúc. Một số đã bị bệch dịch mà chết, còn lại đã phải đổ máu rất nhiều trước khi tìm thấy tự do và một miền đất thật sự an toàn làm chốn an cư trên lãnh thổ Cộng Hoà Natalia. Họ đã phải chiến đấu chống lại lực lượng dũng mạnh của quân đội Zulu của vua Dingane. Đó chính là trận chiến vĩ đại nhất trong lịch sử Nam Phi, được đặt tên là Trận chiến của dòng sông máu, diễn ra vào ngày 16/12/1838) (10).

Ngày 16/12/1888, tổng thống Nam Phi Paul Kruger đã họp hội nghị nêu lên ý tưởng xây dựng đài tưởng niệm Voortrekker để tạ ơn Chúa cho một nền quốc gia độc lập tạm thời. Vậy mà mãi đến 16/12/1949, đài tưởng niệm Voortreeker mới chính thức được khánh thành, tiêu tốn đến 360,000 bảng Anh tại thời điểm đó.

Đó là một đài tưởng niệm lịch sử xứng đáng. Cái sự tĩnh lặng, tôn nghiêm và uy nghi vốn có của nơi đây làm cho những kẻ viếng thăm thời đại là chúng tôi phải tôn trọng và mặc niệm lịch sử hào hùng của “những kẻ dẫn đường” (Voortrekker còn có nghĩa là những người tiên phong). Toàn cảnh Pretoria thoáng đãng, thênh thang hiện ra trước mắt. Đất đai ở Nam Phi rộng lớn quá. Trường đại học Pretoria lâu đời vậy mà hiện ra đằng xa xa lại hiện đại như một trạm không gian.

Khi tôi làm chương trình du lịch về Nam Phi, một số tìm hiểu đã cho tôi biết được rằng Nam Phi mới chính là cái nôi của nhân loại. Khảo cổ học, những vật thể hoá thạch và UNESCO đã chứng minh sự sống đầu tiên của con người bắt đầu từ Gauteng từ lâu đến mức chẳng ai còn có thể nhớ được (10). Nên vì thế mà lịch sự phức tạp của Nam Phi chẳng thể nào gói ghém được trong đôi ba con chữ. Tôi chỉ dám ghi chép lại một phần lịch sử của những nơi tôi đã đi qua mà thôi.

—–

10:00hrs:

Những ngày hè trái mùa với thế giới Nam Phi rất đẹp. Bầu trời xanh ngắt. Mây trắng bồng bềnh. Ánh nắng rực rỡ như cầu vồng, đúng với tên gọi của nó (12). Và điều quan trọng nhất là tôi đã không còn một mình lẻ loi ở lục địa đen. Những người bạn thân thiết nhất trong cuộc sống đã đáp chuyến bay dài 20hrs để đến Nam Phi cùng tôi, làm cho tuổi trẻ của tôi không bao giờ nhàm chán.

Chúng tôi viếng thăm Dinh tổng thống đương thời Jacob Zuma, tiếc thay năm ấy ông bận đi viếng tang Fidel Castro quá cố. Cờ Cuba treo song hành với cờ Nam Phi dọc quảng trường Union Buildings, phấp phới bay trong gió phía sau lưng bức tượng của vị cha già dân tộc Nelson Mandela. Sau này tôi đến Cape Town, chú Mario chỉ nói với tôi rằng có lẽ Nelson Mandela là vị tổng thống da màu duy nhất làm chú và có thể là toàn thể người dân Nam Phi nói chung kính trọng.

Apartheid thực sự được chấm dứt vào 1994 với một quá trình đấu tranh dài đằng đẵng, nhưng sự kỳ thị giữa những màu da ở Nam Phi luôn âm ỉ như một con quái vật dưới lòng đất, chỉ chực chờ được giải thoát thêm một lần nữa.

—–

Ở châu Phi, giáp ranh với Nam Phi có một vương quốc tên là Swaziland. Tôi nghe đồn, quốc vương nước ấy rất giàu có, ông có vô số cung tần, mỹ nữ và vàng bạc châu báu, nhưng dân tộc ông thì đói khổ, lầm than. Ở Nam Phi, có những khu ổ chuột xập xệ chẳng ra nổi một ngôi nhà cơ bản, và những mỏ kim cương thuộc sở hữu tư nhân lừng lững mọc ngay trong thành phố. Ở Victoria Falls, có những doanh nghiệp ngoại tộc Trung Quốc, Hàn Quốc tràn vào đầu tư, ào ạt rót tiền vào ngân khố nhà nước, trong khi những ngôi làng nghèo nàn, lạc hậu như Sizinda còn không có nổi một tờ giấy chứng nhận đất đai mà tổ tiên họ đã để lại từ đời này sang đời khác.

Đi xa như vậy mà tôi đã làm được điều gì cho cuộc đời này? Và tôi tự hỏi chính mình liệu tôi có thật sự sống một cuộc đời mà người khác đang mộng mơ?

—–

.::Nat & her journeys::.

Pretoria & Sun City, South Africa, Dec ’16

(1): Bantustan là biên giới lãnh thổ chỉ dành cho người da đen dưới chế độ apartheid dành cho Nam Phi và Nam Tây Phi (ngày nay là Namibia). Đến năm 1994, Bophuthatswana chính thức được công nhận là lãnh thổ của CH Nam Phi; về mặt địa lý,Bophuthatswana ngày nay trải dài phân bổ ở Free State, North Cape và North Western Province của Nam Phi. 

(2): Mượn lời từ câu trích dẫn ““Every morning in Africa, a gazelle wakes up, it knows it must outrun the fastest lion or it will be killed. Every morning in Africa, a lion wakes up. It knows it must run faster than the slowest gazelle, or it will starve” trong cuốn Born to Run: A Hidden Tribe, Superathletes, and the Greatest Race the World Has Never Seen của Christopher McDougall. Trong đó, tôi đã sửa “sư tử” thành “báo đốm” cho phù hợp với bối cảnh ở Sun City. 

(3): Sable trong tiếng Anh có nghĩa là đen tuyền. Ý chỉ những con linh dương trang trí đúc bằng đồng đen nên được gọi là Sable Fountain

(4): Một ngôi đền của La Mã (ngày nay là Rome, Ý), được xây dựng dưới triều đại Augustus với những kiến trúc cột khổng lồ. 

(5): Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni – một trong những nhà điêu khắc, hoạ sỹ, nhà thơ, kiến trúc sư tài ba nhất nhất nhân loại được sinh ra trong thời Phục Hưng thịnh vượng. 

(6): Tên gọi tiếng Ý của thành phố Florence, Ý

(7): Rapunzel là nhân vật hoạt hình công chúa tóc dài của Disney, bị nhốt trong một toà tháp cao bởi một mụ phù thuỷ

(8): Đài tưởng niệm Voortrekker sở hữu miếng đá cẩm thận có hoa văn phù điêu đối xứng độc đáo và lớn nhất thế giới

(9): Andries Wilhelmus Jacobus Pretorius là lãnh đạo của nhóm nông dân di dân, mà sau này chính là nền tảng cho sự ra đời của CH Nam Phi

(10): trích nguyên văn trong cuốn The Battle of Blood River của A.J.P. Opperman, 1982 (wikipedia)

(11): Tỉnh Gauteng của Nam Phi được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, là cái nôi của nhân loại khi các nhà khảo cổ đã tìm ra được các mẩu đá hoá thạch  3 triệu năm tuổi.

(12): Tổng thống Mandela đã sử dụng thuật ngữ “Quốc gia Cầu vồng” như một ẩn dụ để miêu tả sự đa dạng văn hoá mới phát triển sau khi apartheid bị bãi bỏ. Cụm từ này được sử dụng đầu tiên bởi Tổng giám mục Desmond Tutu (wikipedia).


Leave a comment