Tôi để dấu ba chấm là tiêu đề vì tôi nghĩ chẳng có ngữ từ nào trả lời được cảm xúc khi tôi hồi tưởng mọi thứ vào ngày thứ ba tôi ở châu Phi. Tôi luôn nghĩ mình là một con người may mắn, là một trong 20% dân số thế giới giàu có khi mà tôi có một công việc tốt, có nhà để ở, có thức ăn ngon để ăn hàng ngày, và có những cơ hội được tận hưởng cuộc đời theo một cách trọn vẹn nhất. Vậy mà khi đặt chân được đến châu Phi, và đến thăm ngôi làng Sizinda, tôi cảm thấy mình phải hàm ơn cuộc đời mà tôi đang có gấp mười vạn lần. À, mười vạn lần có khi còn chưa đủ…
Những gì tôi kể lại dưới đây, nghe như có vẻ là một bài tư liệu nhiều hơn là một nhật ký hành trình mộng mơ truyền cảm hứng. Trước khi tôi đi đến làng Sizinda, trong đầu tôi còn nghĩ ra nhiều câu chuyện thêu dệt hài hước để chòng ghẹo bạn bè ở nhà. Sau khi tôi đi đến làng Sizinda, trong đầu tôi chỉ còn lưu lại một nhiệm vụ nói lên một sự thật phũ phàng nhất về quyền con người, quyền phụ nữ và quyền được đi học của bọn trẻ con. Tôi ngả mũ kính trọng những cá nhân và tổ chức đã dành rất nhiều thời gian, sức lực và tiền của để bước vào một cuộc tranh giành nhân quyền cho những con người xa lạ. Đối với tôi, những cuộc chiến đó mới là những cuộc chiến tiêu hao, kéo dài và đau thương nhất của nhân loại. Tôi biết, thực tiễn mà tôi đã được chứng kiến ở làng Sizinda chỉ là một vết sẹo rất nhỏ của châu Phi. Còn có nhiều sự hà khắc và đớn đau hơn ở phần còn lại của lục địa đen.
—–
O’Brian và Josia là tour guide ngày cuối cùng tôi ở châu Phi, cùng với hai vị khách VIP khác từ Nam Phi. Hai người phụ nữ da ngăm đen phốp pháp mặc quần short, áo phông thoải mái là chủ tịch tập đoàn và giám đốc tiếp thị của một công ty du lịch có tiếng tại thị trường châu Phi, trong khi tôi thì quần jeans, áo chemise chỉn chu chẳng khác nào nhà báo đi tác nghiệp. Họ cũng như tôi, đến để khảo sát các hoạt động địa phương và cân nhắc để làm chương trình tour cho những khách hàng hào phóng của mình. Có thể nói rằng được làm công việc của mình là một điều đặc biệt; dù sao, tôi cũng đã được trải nghiệm những bài toán ẩn số mà hơn một nửa nhân loại ngoài kia vẫn còn mù mờ.
Tôi đã từng đề cập việc ở Victoria Falls này nói riêng, hoặc Zimbabwe và châu Phi nói chung chia thành ba lớp. Trung tâm thành phố là tòa thị chính, nhà hàng sang trọng, những quán bar sôi động, bưu điện, trung tâm mua sắm và ngân hàng. Tôi gọi lớp này là “Một giấc mộng trưa hè châu Phi đến muộn”. Lớp thứ hai là ngoại ô bao quanh “cái lõi”, chủ yếu là nơi sinh sống của những con người châu Phi hiện đại. Họ có cuộc sống khá giả hơn những gì báo đài hay đưa tin về lục địa đen, họ có công việc ổn định ở văn phòng hoặc công ty lớn, hoặc chí ít cũng sở hữu những nhà hàng, quán nước nhỏ to trong phố thị. Tôi gọi lớp này là “Dải phân cách giữa giấc mộng và thực tế”. Lớp ngoài cùng là cuộc sống khắc nghiệt đang diễn ra hàng ngày ở châu Phi, là cuộc chiến mà UNICEF, UN hay các nhà hảo tâm thế giới đang đấu tranh hàng ngày, là sự bất công cùng cực cho phụ nữ, động vật hay trẻ em, là những lề thói cổ hủ còn sót lại. Tôi gọi lớp này là “Sự thật”.

—–
Xe dừng ở một ngôi chợ địa phương để cô bạn đi cùng mua về nhà những quả xoài châu Phi to đùng. Thế là tôi có 10 phút quan sát những hình ảnh địa phương đầu tiên thực sự đã bị che đậy trong những ngày mới đến. Ngôi chợ nhỏ, nực nội và ruồi bay kêu vo ve. Mặt ai nấy đều nhăn nhó vì cái sự khắc khổ của cuộc sống mưu sinh và cái tiết trời hầm hập. Tôi hỏi O’Brian liệu tôi có thể chụp một tấm hình làm tư liệu được không và nhờ anh Cảm ơn bằng ngôn ngữ địa phương sau khi người phụ nữ – mà tôi đoán là “chị đại” của chợ – gật đầu đồng ý chẳng buồn nhìn lấy tôi một cái. Cái chợ này còn nhỏ hơn cả cái chợ ở Côn Đảo. Trông thấy tôi có vẻ ngại ngùng vì sự lạnh lùng của người phụ nữ da đen đẫy đà, O’Brian cười hiền từ bảo tôi rằng, “Những gì bạn được trải nghiệm trong hai ngày vừa rồi là sự xa hoa dành riêng cho du khách. Đây mới là đời sống mà chúng tôi sống đấy, nên đừng trách nếu họ có lỡ cau có nhé”. Ôi, làm sao tôi có thể trách họ được? Thay vào đó, tôi phải cảm ơn họ đã cho tôi thấy được sự thật mà bất cứ ai đặt chân đến châu Phi này cần được thấy.
Trường tiểu học Chinotimba trên đoạn đường tôi đi qua hiện lên khang trang so với gương mặt gay gắt của nắng và trời châu Phi. Độ mười đứa trẻ đang chơi đùa trong sân. Có một anh chàng Tây phương cao to đang hướng dẫn chúng những động tác thể dục khoẻ khoắn. Anh chàng là một tình nguyện viên can đảm, hoặc là sinh viên đến đây để trao đổi văn hoá. Phải dũng cảm lắm, thì người ta mới có thể từ bỏ sự văn minh máu lạnh mà đến vùng đất này khai sáng nhiều tâm hồn non trẻ.


—–
Làng Sizinda cách trung tâm thành phố 30 phút chạy xe. Đi vào những con đường hoang mạc cát bụi mịt mù, cái nóng khô hạn, đồng không mông quạnh và những cây xương rồng khổng lồ mọc trơ trọi hai bên đường mới đến làng Sizinda. Tôi đồ, mẹ tôi ở nhà mà biết tôi đi khám phá như thế này thì bà sẽ không cho tôi đi đâu du lịch nữa cả. Khi nhìn lại, quả là tôi đã không sợ trời không sợ đất. Thiết nghĩ, tôi lỡ mà bị bắt cóc làm tù nhân khủng bố như báo đài hay đưa tin hay xẻo thịt nuôi sư tử thì chắc cũng không còn một dấu vết nào truy ra được. Nhưng như tôi đã nói người xấu tuy có nhiều, nhưng người tốt còn có nhiều hơn. May là tôi chẳng đáng giá và chẳng đủ xinh đẹp để hấp dẫn bọn tống tiền.
Làng Sizinda là quê nhà của Josia – một trong hai hướng dẫn viên của tôi mà tôi đã nói ở trên. Josia đã nói với tôi như thế này, “Cô bạn à, khi nào bạn quay về Việt Nam, liệu bạn có thể viết những điều tốt đẹp về chúng tôi, để những con người của nước bạn và cả thế giới có một cái nhìn khác về chúng tôi không? Một cái nhìn sự thật ấy”. “Tôi chắc chắn sẽ làm như vậy, tội nợ các bạn quá nhiều cơ mà”. Khi viết về châu Phi, tôi luôn đầu tư tâm tư và tình cảm của mình nhiều hơn thảy những vùng đất khác. Những con người sống ở đây vốn dĩ đã chịu sự bất công quá rồi.
Josia là em trai của tù trưởng làng Sizinda. Josia chụp với tôi một tấm ảnh kỷ niệm, anh khoác vai tôi và bảo đây là lần đầu tiên anh thực sự động chạm vào một người phụ nữ, đặc biệt là một người phụ nữ ngoại bang. Nhưng anh không ngại ngần vì anh biết tôi sẽ kể những điều hay ho nhất cho dân tộc của tôi nghe về dân tộc của anh. Khoác vai một ai đó để chụp một tấm ảnh thân tình nghe có vẻ đơn giản ở nơi tôi sinh sống, nhưng đòi hỏi một sự cố gắng và đi ngược lại với truyền thống của nơi anh sinh sống. Josia sẽ chẳng bao giờ có thể yêu bất cứ một cô gái hiện đại nào. Anh chỉ có thể kết hôn với người phụ nữ cùng thôn làng, mặc váy áo truyền thống, giỏi nội trợ, chấp nhận cuộc sống đa thê, mắn đẻ, cam tâm hầu hạ cả gia đình chồng bao gồm anh chồng, em chồng, chị em bạn dâu, cháu chồng và có thể là một gia phả dài dằng dặc sau đó. Anh sẽ không bao giờ biết được thứ tình yêu sét đánh có trong tiểu thuyết. Anh sẽ không bao giờ có thể rời bỏ ngôi làng của mình để chu du và chọn lựa một đời sống màu sắc hơn. Tôi hỏi Josia nếu một ngày nào đó anh gặp một cô gái hiện đại anh yêu vô cùng thì sao. Và nếu điều đó có xảy ra, hoặc là cô gái đó phải yêu anh đủ để chấp nhận cái vòng xoáy bất công dành cho phụ nữ đã kéo dài nhiều thế kỷ, hoặc là anh phải yêu cô đủ để từ bỏ nguồn gốc của mình, hoặc là họ phải chấp nhận không thuộc về nhau. Hàng ngày, Josia vẫn phải đi lại 30 cây số/chặng từ nhà đến chỗ làm. Anh sẽ phải đi bộ ra đường cái dưới cái thời tiết này và bắt xe buýt công cộng đến thị trấn. Đối với gia đình mình, anh đã là một niềm tự hào vì được hoà nhập vào cộng đồng hiện đại. Đối với tôi, tôi cũng tự hào vì đã được biết anh – một người đàn ông hiền lành đã khơi mở cho tôi một cái nhìn trần trụi về những gì đang diễn ra hàng ngày ở miền hoang mạc.
—–
Những ngôi làng hẻo lách cách xa nhau một vùng trời được xem là một vùng đất tiểu bang tự trị (state land). Mỗi vùng đất tiểu bang tự trị này không giống như những tiểu bang trù phú ở Hoa Kỳ hay những vùng đất tự trị Hong Kong, Macau tư bản như khái niệm của chúng ta. Có thể cơ cấu chính trị và quản lý con người giống nhau chỉ mỗi một chỗ họ điều hành chính luật lệ của họ và chính phú Zimbabwe chỉ liên quan một phần rất nhỏ, kể cả việc mê tín dị đoan. Tù trưởng là người cai trị, hay nói hoa mỹ hơn một tí thì là vua của 26 ngôi nhà. Mỗi vùng đất tự trị không có giấy phép đất đai hay các loại sổ hồng, sổ đỏ hay được chứng nhận trên bản đồ Zimbabwe. Vì thế mà nhà nước hoàn toàn có thể đuổi họ đi bất cứ lúc nào. Họ chẳng có của cải, chẳng có nơi nào thực sự để thuộc về. Họ sống từ đời này qua đời khác, cha truyền con nối, lấy nghề nông và chăn nuôi gia cầm, gia súc sinh sống. Tù trưởng là người thầy thuốc, là người trừ ma diệt quỷ, là người đại diện cho thánh thần và là người vừa sinh ra đã được lựa chọn bởi thần linh. Thần linh ở đây, đa số là những từ trưởng tiền nhiệm, hay nói cách khác là thì chính là cha ruột của họ.
Con vua thì lại làm vua,
Con sải ở chùa thì quét lá đa…
Tù trưởng làng Sizinda năm nay đã 56 tuổi (năm tôi đến thăm), có 3 người vợ và 14 người con chính thức. Người vợ trẻ tuổi nhất sinh năm 1990, cách ông 30 tuổi và kém tôi 2 tuổi. Những người vợ và con không chính thống thì ôi thôi đếm không xuể, rải rác từ làng này đến làng kề bên. Khi thấy tôi tiếp nhận thông tin một cách ngạc nhiên, Josia đã giải thích rằng một số bệnh nhân từ nơi khác đến trừ tà chẳng có của cải để phúc đáp thần linh nên nguyện hiến dâng thân xác của họ (nếu họ là phụ nữ) hoặc thân xác của con gái họ, mặc dù Josia khẳng định tù trưởng không đòi hỏi điều gì. Mọi sự hiến dâng đều là tự nguyện để được gần hơn với Đấng tối cao.
Tôi bước vào căn phòng trừ tà, dẫu nơi đây cấm tiệt phụ nữ. Nhưng do tôi là người ngoại tộc, cũng là khách du lịch của thế giới hiện đại nên những phép màu hay ô uế sẽ chẳng linh nghiệm. Căn phòng không đèn u ám và nồng nặc mùi lá thuốc – những lá thuốc địa phương như thuốc Đông Y ở nhà dùng để trị bệnh. Hiển nhiên, tù trưởng chẳng tốt nghiệp trường y, cũng chẳng có sách y khoa mà đọc, tất cả mọi phương pháp chữa bệnh chỉ dựa trên kinh nghiệm của mình và tiếng gọi của thần linh. Đằng nào thì tôi cũng sẽ không quay lại nơi đây cơ mà, nên tôi liều mình hỏi liệu tôi có thể sắm vai bệnh nhân để biết được quy trình bốc thuốc ở đây thế nào không. Josia giải thích, đầu tiên, tôi sẽ phải quỳ gối và lạy bốn phương tám hướng đến các vị thần. Sau đó, tù trưởng sẽ gõ vào hai đầu gối của tôi và chờ thần linh trả lời liệu có… thuốc chữa cho tôi không. Ưu điểm là bệnh tật nào cũng có thể giãi bày, kể cả tâm bệnh. Nhược điểm là bạn có thể chết oan uổng vì thần linh không muốn bạn sống nữa thôi. Nhà nước Zimbabwe nói riêng không ủng hộ những hủ tục hay tuyên truyền mê tín dị đoan, và luôn khuyến khích người dân đến bệnh viện để chạy chữa. Đáng buồn thay, cái gốc cái rễ đã cắm sâu quá rồi vào lòng đất.
Nhà tù trưởng giàu có nhất làng, là nơi sinh sống của tứ đại đồng đường. Ông mời mọi người vào thăm cả chốn riêng tư nhất là phòng ngủ hai gian của ông. Ông có chiếc TV cũ rích trắng đen như của ông bà tôi ngày trước, có cả radio chẳng còn hoạt động, chiếc tủ lạnh cỡ trung, giường chiếu được gấp thẳng thóm và mọi thứ khác tuy cũ kỹ nhưng tinh tươm. Ở đây chẳng có sóng điện thoại, càng không có sóng vô tuyến… Những căn nhà đất nung lợp cỏ khô châu Phi rải rác trong khuôn viên vườn, cách nhau vài bước chân dành cho từng cá nhân hay gia đình nhỏ riêng biệt. Cỏ châu Phi dày và chắc hơn cỏ Đông ta nhiều lần, đủ để tránh cái nắng cháy da cháy thịt của lục địa đen. Những căn nhà đáng yêu, mộc mạc và cực kỳ ngăn nắp. Tôi chưa bao giờ gặp căn bếp nào gọn ghẽ đến vậy trong cuộc đời mình, kể cả những căn bếp sang trọng trên tạp chí kiến trúc có khi cũng không sánh bằng. Những bầu rượu nặn bằng đất nung, những chiếc nồi nhôm ba chân, hay chén, đĩa nặn tròn trĩnh bằng đất sét xinh như đồ hàng của mấy bé gái được đặt ngăn nắp. Tôi hỏi Josia, liệu căn bếp có được sắp xếp trước vì họ biết hôm nay chúng tôi đến thăm? Và Josia bảo tôi rằng, những con người ở đây luôn là chính họ, họ chẳng bao giờ sắp xếp trước điều gì, có chăng đôi khi chỉ là một bộ quần áo tươm tất hơn. Đàn bà chỉ được ăn cùng nhau dưới gian bếp nhỏ, sau khi đã phục vụ cơm canh nóng hổi cho cánh đàn ông ở gian nhà trên.
Đàn bà giã cám, tưới cây, cho gà ăn thóc. Những con gà sao đội mũ bảo hiểm, những con gà trống to lực lưỡng, và mấy con heo mọi xoay vòng tròn quanh chúng tôi vừa xin ăn, vừa hóng hớt những câu chuyện mà Josia kể cho chúng tôi nghe. Tôi không biết những người phụ nữ này đã nhìn chúng tôi và nghĩ gì?
—–
Những đứa bé trai giờ này đã đi học. Trường làng cách nhà cũng 30 cây số/chặng và dĩ nhiên chúng cũng phải đi bộ trên những con đường chói chang đến ám ảnh. Những đứa bé gái chỉ ở nhà lo việc đồng áng và chăn bò. Chúng không bao giờ có tương lai. Họ sinh đẻ nhiều như vậy, cốt cũng chỉ lấy sức người để phụ giúp làm công việc tay chân, nên trẻ con có đến trường hay không cũng chẳng sao.
Vài ba anh trai làng vạm vỡ kéo xe cút kít mời mọc chúng tôi để đỡ phải vất vả đi bộ ra xe O’Brian đã đợi sẵn ở ngoài. Chúng tôi từ chối và gửi lại ít tiền cho tù trưởng và mọi người. Có lẽ, tiền bây giờ là thứ công cụ hèn mọn ít ỏi duy nhất có thể Cảm ơn họ đã cho phép chúng tôi Ekuhle (*) lãnh địa của họ ngày đó, mặc dù tôi không biết họ sẽ dùng cho việc gì?
Có những thứ văn hoá chúng ta vô cùng bất bình, nhưng chúng ta buộc phải tôn trọng.







—–
Có thể ai đó khi đọc được những dòng này sẽ cho rằng tôi đang làm quá mọi việc, khi mà ở Việt Nam vẫn còn nhiều mảnh đời bất hạnh không kém. Họ không sai. Nhưng tôi biết, những mảnh đời bất hạnh ở Việt Nam còn có được tự do và quyền lựa chọn tự do. Chỉ là họ thường lựa chọn lối mòn dễ dàng. Ở châu Phi, phụ nữ và trẻ em không có bất cứ thứ quyền gì. Ở đó, họ được xem là thứ nô lệ trá hình tưởng đã được chấm dứt từ rất lâu.
Tôi đã trích dẫn một phần trong bức thư Angelina Jolie viết kỷ 150 năm thành lập tạp chí Harper Bazaar’s về thiên nhiên. Tôi xin được phép trích dẫn một phần khác về phụ nữ, vẫn trong bức thư cô đã gửi từ Namibia,
“When I was asked to write for this special anniversary edition of Bazaar, I imagined a female reader of the magazine 150 years ago, in 1867. If she’d been able to see us—today’s women—what would she have made of us? As a woman, for much of the 19th century in most Western countries, you couldn’t go to university, and entire professions, like medicine, science, and law, were closed to you. You couldn’t vote and wouldn’t win that right in many countries for more than half a century.
So I imagine that if that reader of Bazaar could see us now, she would be astonished. And since she probably argued for women’s rights in her lifetime, I imagine she’d be thankful. But I also wonder what that 19th-century woman would make of the inequality that still exists for tens of millions of women and girls around the world—such as the ones who have to go to work instead of school because they support their families, like the girl Parvana depicted in the animated film The Breadwinner. Or the women who will still die young because they have little or no access to health care. Would she think that we have done enough for them?”
(tạm dịch: khi tôi được mời đến viết một ấn bản đặc biệt kỷ niệm 150 năm thành lập cho Harper Bazaar’s, tôi đã tưởng tượng về những độc giả nữ của năm 1867, các đây 150 năm. Nếu họ có thể nhìn thấy chúng ta – những người phụ nữ hiện đại ngày nay – họ sẽ nghĩ gì? Nếu là một người phụ nữ phương Tây vào thế kỷ 19, bạn sẽ không thể đi học, và những chuyên môn về y tế, về khoa học hay luật là một thứ thật xa vời. Bạn không thể bầu cử, cũng sẽ không bao giờ có cái quyền đó ở hầu hết các nước, trong suốt hơn một nửa thế kỷ.
Rồi tôi cũng tưởng tượng chính những người phụ nữ đó khi thấy chúng tôi bây giờ, họ sẽ ngạc nhiên. Có thể họ đã đấu tranh cho nữ quyền suốt cuộc đời này, và cảm kích về những gì chúng ta đã có thể làm cho phụ nữ ngày nay. Nhưng tôi tự hỏi họ sẽ hỏi còn sự bất công đối với phụ nữ vẫn đang tồn tại ngoài kia thì sao? 10 triệu phụ nữ và bé gái trên khắp thế giới này vẫn phải đi làm nuôi gia đình thay vì được đi học thì sao, như cô bé Parvana trong bộ film The Breadwinter? còn những người phụ nữ phải chết trẻ vì không được tiếp xúc với y tế thì sao? Liệu chúng ta đã làm đủ chưa?)
—–
Việc đến thăm làng Sizinda và những người phụ nữ không được phép mở miệng chuyện trò với khách, dù tôi cũng là phụ nữ đá ám ảnh tôi kinh khủng. Tôi huỷ buổi trà chiều quý tộc ở khách sạn Victoria Falls và đi vào một hiệu làm tóc địa phương. Tôi yêu cầu họ bím cho tôi một mảng đầu cornrow thật chất để mang theo suốt những ngày còn lại ở châu Phi, cũng là một cách tôi ghi nhớ châu Phi, cảm kích châu Phi và siết chặt những kỷ niệm về châu Phi.
—–
Bữa tối cuối cùng ở Victoria Falls, tôi ăn tối cùng với đối tác và con trai của cô. Trish là một trong những nhân vật cấp cao của Shearwater – công ty du lịch đối tác đã nghênh tiếp tôi như nghênh tiếp một vị công chúa Á châu vi hành. Trish thay mặt công ty thết đãi tôi nào là món cá ngọt thịt đặc sản của dòng sông Zambezi và beefsteak châu Phi thượng hạng. Nhưng điều tôi nhớ nhất về cô là lại là quyết tâm nung nấu và hiện thực hoá việc bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm của vùng tam giác vàng Zambia, Zimbabwe và Namibia. Cô có ba người con trai, trong đó có hai người đang du học ở Nam Phi, còn lại là Thomas 8 tuổi cùng ăn tối với chúng tôi ngày hôm đó. Động lực chính để cô thực hiện được những dự án bảo vệ Mẹ thiên nhiên và những đứa con của bà là “I want this young boy to grow up simply knowing how a rhino looks like, and how we owe a great debt to Mother Nature. We built luxurious resorts and upcoming home stays for those who have less fortune but more love to Mother Nature” (tạm dịch: tôi muốn khi con trai tôi lớn lên, nó còn được biết con tê giác trông ra làm sao, và chúng ta nợ Mẹ Thiên Nhiên điều gì. Chúng tôi đã xây dựng những resort cao cấp, và đang trong quá trình xây dựng những nhà nghỉ bình dân hơn dành cho những ai có ít tiền hơn, nhưng lại rất nhiều tình yêu dành cho môi trường, cho thiên nhiên).
—–
Càng đi xa, tôi càng nhận thấy mình chỉ nhỏ bé như một hạt cát trong sa mạc bất tận.
Lisale kuhle (**), châu Phi!
—–
.::Nat & her journeys::.
Victoria Falls, Zimbabwe, Nov ’16.
—
(*): Ekuhle là một từ trong tiếg Ndebele được dùng khi đến thăm nhà ai đó, bạn sẽ phải đứng trước cổng nhà và hét lớn Ekuhla, ý hỏi “Liệu chúng tôi có thể vào nhà bạn trong hoà bình được không?” (Can we come in with peace?)
(**): Lisale kuhle dùng để chào tạm biệt nhau, có nghĩa là “Bình yên sẽ mãi ở bên bạn” (Remain in peace).
