Cây to
Trong Hoàng Tử Bé (*), những cây bao báp đã từng được Antoine De Saint-Exupery miêu tả rằng “chúng to bự như tòa lâu đài” (**). Tác giả đã từng dành một phần của cuộc đời mình sống ở châu Phi, nên những miêu tả trong truyện của ông gần như chính xác về những cây bao báp. Loài thực vật nghìn năm tuổi to lớn này là nguồn sống dồi dào cho cả động vật lẫn những con người hoang dã nhất của hành tinh chung. Lá của chúng được người dân châu Phi ăn như rau. Hạt của chúng giã nhuyễn ra thì làm gia vị, hoặc tinh dầu làm đẹp. Thân của chúng dùng làm nhiên liệu. Cùi thịt khô của chúng dành chế biến món ăn với cháo yến mạch thơm lừng. Rồi khi mùa khô đến, chúng là cái bình dự trữ nước khổng lồ cho những loài động vật hoang dã. Tán lá của chúng tỏa ra rợp bóng như một cây dù lớn mà Nữ Thần Mặt Trời ban tặng cho nhân loại, để phần nào chống chọi với sự hà khắc của bà.
Khả năng nhiếp ảnh kém cỏi của tôi chẳng thể nào lột tả được cái sự vĩ đại của những cây bao báp dọc đường đi; trái ngược với Antoine, không có bức tranh nào ông đã vẽ trong Le Petit Prince “lại tráng lệ và ấn tượng như bức tranh vẽ những cây bao báp” (**). Cây bao báp, như ông nói, đã giúp ông vượt lên chính mình. Cây bao báp, như một sinh vật ngoài hành tinh chẳng biết đường về nhà đang tạm bợ hít thở bầu khí quyển của hành tinh mà chúng ta đang sống.
Rồi Antoine đã cảnh báo với Hoàng Tử Bé “thậm chí nếu chú bé dẫn một đàn voi đi theo, cả đàn voi đó cũng không ăn hết nổi một cây bao báp” và dặn dò rành rẽ “Con trẻ, hãy coi chừng những cây bao báp!” Tôi chực chạy lại chụp hình với cây bao báp một tấm ảnh kỷ niệm thì từ đâu cả một đàn voi xuất hiện chuẩn bị cho bữa cơm trưa bao báp thịnh soạn (hiển nhiên là khi phát hiện ra chúng tôi đã quắn đít lên mà chạy). Ở một khoảng cách đủ gần, tôi đã được diện kiến “chúa rừng” của châu Phi, bên cạnh những cây bao báp kỳ dị.
Hóa ra, tôi đã được bước vào một chương sách kinh điển và sống giây phút như một giấc mộng ban trưa. Hóa ra, tôi đã là một Alice lạc vào xứ thần tiên đời thực.

—
(*): Hoàng Tử Bé (Le Petit Prince) là một tác phẩm thiếu nhi nối tiếng mọi thời đại của nhà văn Pháp Antoine De Saint-Exupery
(**): Trích nguyên văn trong tác phẩm Le Petit Prince
————
Thác lớn
Tôi không biết mình nên bắt đầu từ đâu khi kể những câu chuyện về Thác Victoria. Người ta gọi Thác Victoria là một trong bảy Kỳ Quan Thế Giới, là một di sản văn hóa được UNESCO công nhận, là một tài sản quý báu của nhân loại, là một niềm tự hào khôn xiết của lục địa đen, và là Mosi-Oa-Tunya (dịch ra tiếng Anh là “the smoke that thunders”. Tạm dịch: Cơn khói gầm rú). Còn tôi gọi Thác Victoria là điều tuyệt vời nhất của châu Phi mà tôi đã từng chứng kiến.
Hãy bắt đầu bằng câu chuyện của chính tôi về Thác Victoria từ nhiều năm về trước. Đối với tôi, Thác Victoria đã từng là một điều rất huyền bí. Những tháng ngày sống và làm việc ở Dubai khi vừa tốt nghiệp, tôi có khá nhiều bạn bè đến từ Nam Phi, Cameroon, Kenya và nhiều vùng đất khác của châu Phi. Họ kể cho tôi những câu chuyện về Thác Victoria và lột tả nó như một thế giới siêu thực. Họ bảo, ở châu Phi, người ta phải dùng xe cút kít chở mười mấy kilogram tiền giấy chỉ để mua một chai Coca Cola, còn để mua một chiếc xe hơi, họ phải chở cả xe tải tiền cơ. Họ bảo, ở châu Phi có một cái thác lạ kỳ không trọng lực. Nếu một ngày tôi có dịp đến đó, tôi có thể thử bơi ra ngay mép thác rồi quẳng cái Iphone của tôi xuống mà xem nó sẽ bị hút ngược lên. Họ bảo tôi hãy men theo dòng sông Mozambique đi ngược lên để đến được Thác Victoria vì nó là vùng đất “No man land” (Tạm dịch: Vùng đất không có người sinh sống). 22 tuổi ngô nghê vào đời, tôi…tin sái cổ vào những câu chuyện hư ảo truyền miệng. Tôi chắc mẩm những người đã kể cho tôi nghe bao nhiêu truyền thuyết ấy chưa một lần đặt chân đến Vườn quốc gia Victoria Falls.
Dĩ nhiên là ở Zimbabwe chẳng ai đẩy xe ba gác tiền giấy đi mua Coca Cola. Những tờ tiền trăm tỷ đã được ngưng sử dụng từ năm 2008. Tôi có mua về nhà làm quà vài tờ tiền bán đầy ở chợ trời như một thứ đặc sản đã bị lãng quên của Zimbabwe.
Dĩ nhiên tôi đã không “chơi dại” bơi ra khỏi mép vực mà lao mình xuống thử sức hút của trái đất. Phía bên kia biên giới Zambia chính là hồ bơi tử thần (Devil’s Pool) nằm sát mép vực thác. Khách du lịch nào đến đây vào mùa khô cũng khó lòng cưỡng lại trải nghiệm ngâm mình tắm nắng, chụp những pose ảnh để đời ở Devil’s Pool. Mùa khô chẳng phải là mùa hùng vĩ nhất nơi đây, nhưng con người vẫn sáng tạo để có thể tận hưởng sự xa hoa giữa cái nắng cháy da cháy thịt và tiếng thác rên rỉ. Tôi đã đứng bên này của Thác Victoria mà nhìn sang quan sát. Tôi đồ rằng khi David Livingstone khám phá ra Thác, ông chỉ mong muốn con người hãy giữ gìn thật kỹ món quà được đặt theo tên vị nữ hoàng đáng kính của mình, chứ không mong con người bày ra lắm trò hòng níu kéo chút quý tộc xưa. Và tôi mừng vì tôi đã chọn đáp xuống Victoria Falls. Rút cuộc thì lực hút trái đất hoàn toàn bình thường.
Dĩ nhiên tôi đã chẳng đi ngược dòng từ Mozambique lên thượng nguồn mà bay đến Victoria Falls. Thác nằm trên lãnh thổ của cả Zambia và Zimbabwe. Thác chảy thành sông ào ạt bên lãnh thổ Zambia. Nếu muốn được hòa mình vào trong từng làn khói hơi nước của con thác vĩ đại này vào mùa mưa hay bì bõm bơi lội ở Devil’s Pool vào mùa khô, thì hãy bay đến thủ đô Livingstone. Nếu muốn được tận mắt bao quát sự dữ dội rền vang hơn bất cứ khúc khải hoàn nào dù mùa mưa, hay mùa khô, thì hãy bay đến thủ đô Victoria Falls. Ngày lên kế hoạch cho hành trình, đối tác bảo tôi đến đâu họ cũng có thể gặp tôi được. Và tôi chọn Victoria Falls. Điều đó đã phản ánh đúng tính cách của tôi dễ sợ. Chúng ta đi thật xa, chẳng phải để khám phá ra nhiều vùng đất mới mẻ nữa, mà chính là khám phá chính mình.
Bởi mới thấy, “of all the books in the world, the best stories are between the pages of a passport” (tạm dịch: trong tất cả những cuốn sách trên thế giới, những câu chuyện hay nhất lại nằm trên những trang hộ chiếu).
Thác Victoria thuộc vườn quốc gia Victoria Falls. Tôi đến thác vào mùa khô, nên khung cảnh không hoành tráng như mùa mưa. Chỉ có một phần ba lượng nước của thác vẫn chảy. Nói như thế, không phải là tôi đã chọn đi sai mùa, hay thác đã thôi dữ dội. Người ta gọi Thác Victoria là Cơn khói gầm rú ắt phải có lý do của nó, phải không? Ở từ đoạn đầu khi mới vào vườn quốc gia, tôi đã nghe tiếng gào rống lấn át vạn vật xung quanh của vị nữ hoàng quyền lực này. Dẫu khô hay ướt, thì Thác Victoria vẫn hào hùng hát vang những tràng sử thi bất chấp thời gian. Do tôi đi vào mùa khô nên vẫn có thể xúng xính váy áo xinh tươi, một cặp kính mát, đôi boots đi bộ và kem chống nắng là đã có thể nhẹ nhàng khám phá từng ngóc ngách vườn quốc gia. Vào mùa mưa, thứ duy nhất bạn cần dĩ nhiên là áo mưa. Mưa không phải do châu Phi trở trời mát dịu mà là lượng nước thác và khói sương bắn tung tóe đủ làm bạn ướt hơn chuột lội. Mùa mưa là mùa lễ hội của nữ hoàng, nên mụ phất tay bao trùm vạn vật bằng bao nhiêu lớp khói sương dày đặc; và quan trọng nhất là bạn đừng hòng chụp cận cảnh trừ phi bạn đem theo một cái máy ảnh thật xịn chống nước.
Tôi và Smart đã đi bộ qua 16 điểm dọc rừng quốc gia theo con đường rừng độc đáo nhất, rồi ra lại cổng theo con đường ngoằn nghèo khô cằn trong cái oi bức dã man của châu Phi. Tôi không muốn bỏ lỡ bất cứ điều gì về Thác Victoria.
Mở đầu cung đường là những chiếc đầu lâu, xương sọ hóa thạch của những con vật hoang dã. Một cách chào mừng có vẻ rùng rợn quá nhỉ? Cây xanh rợp bóng âm u hai bên đường nên tôi càng có cảm giác mình đang thám hiểm những nơi tận cùng của trái đất hơn. Tượng đồng của David Livingstone và chiếc thuyền độc mộc mô phỏng lại phương tiện giúp ông khám phá ra Thác trên dòng sông Zambezi đứng đó hàm ơn đã hơn nửa thế kỷ (*). Dành 33 năm của cuộc đời mình để yêu mến châu Phi, ông là người hùng của Zambia, Zimbabwe và nhân loại. Nếu không có ông, thế giới ngày nay chắc hẳn vẫn còn mù mờ về một món quà Thượng đế đã ban tặng. Nếu không có ông, chẳng ai cất công chu du đến Zambia, Zimbabwe để cứu rỗi một phần nghèo nàn và lạc hậu của hai đất nước. Nếu không có ông, chẳng ai thêu dệt được những câu chuyện để tôi có thể nung nấu một ước mơ và cả gan thực hiện nó như bây giờ. Siyabonga (**), David Livingstone!
Chúng tôi men theo 73 bậc thang xuống dốc dùng xích sắt làm tay vịn (bởi thế mà nó mới gọi là “chainwalk”, “chain” trong tiếng Anh có nghĩa là dây xích) để gần đáy thác nhất có thể. Khu vực này còn được gọi là Thác nước của Quỷ (Devil’s Cataract). Thác nước của Quỷ được chia cắt với con thác chính Victoria bởi ốc đảo nhỏ Cataract (hay còn được gọi là đảo Boaruka. Boaruka trong tiếng Tonga có nghĩa là “Sự phân chia nước”). Tôi nói chúng tôi đã ở gần với đáy thác nhất vì khu vực này là khu vực thấp nhất trong năm thác gộp lại cùng với Thác chính Victoria, cũng là lưu vực có dòng thác chảy yếu nhất (theo thứ tự: Devil’s Cataract, Main Falls, Horseshoe Falls, Rainbow Falls, Armchair Falls và Eastern Cataract). Smart bảo, khi mùa khô đến, hòn đảo Boaruka bỗng dưng trở thành một địa điểm giải khát tụ họp nào voi, hà mã, nào linh dương, sư tử, nào báo đốm, và cả những con cò châu Phi sải cánh hiền lành. Người ta bảo, rồi thời gian, dòng nước và tác động của con người sẽ bào mòn đảo Boaruka một ngày nào đó… Hơi nước còn sót lại của thác trong những ngày hè bốc lên phủ trắng một khoảng trời. Tôi nghĩ, khi sáu con thác cùng nhau hợp xướng khúc khải hoàn thì chắc có lẽ màn sương ban mai dày đặc của Đà Lạt cũng phải nhún mình chào thua.
Từ điểm thứ Ba đến thứ Sáu của cung đường, chúng tôi băng qua khu rừng nhiệt đới không bao giờ ngừng khóc (rainforest) của vườn quốc gia Victoria Falls. Tôi gọi nó là khu rừng không bao giờ ngừng khóc vì mưa rơi ở đây chẳng bao giờ tạnh. Những cơn mưa phùn nhẹ mùa hạ và những con mưa lớn hơn vào mùa mưa nuôi sống những loài thực vật khổng lồ không rễ. Những cái cây hình thù kỳ dị mọc lung tung ngang dọc bên lưng chừng thác, hay nghiêng ngả trên đất liền vì không có rễ bám vẫn sừng sững và to lớn vì được uống nước quanh năm. Mẹ Thiên Nhiên luôn có cách của bà! Tôi thích đi trong khu rừng này lắm, đến độ chẳng muốn thoát ra. Một phần vì lạc lối trong một khu rừng thần tiên nhường ấy mát rười rượi; tôi đồ chẳng có một chiếc quạt gió hay máy lạnh nào trên thế giới tuyệt vời hơn thế. Một phần vì thần rừng bày sẵn những chiếc xích đu bện bằng cành cây đong đưa hiếu khách mời ai đó đã mỏi – những chiếc xích đu tưởng chỉ có trong film ảnh. Smart đã nói với tôi như vậy: “trông gương mặt của bạn vui vẻ làm sao!”. Ừ thì đó chính là khoảnh khắc mà tôi đã thực sự tận hưởng đấy, Smart ạ. Những đoá hoá cầu lửa (fireball flowers) mọc dại bên đường. Những con gà sao “đội mũ bảo hiểm” (***) nhơn nhởn khắp khu rừng mưa. Chim muông ca hát ríu ra ríu rít. Hệ thực vật đa dạng rậm rạp. Và rồi hai con linh dương châu Phi ăn cỏ hiền hoà nhảy chân sáo thoăn thoắt lánh người. Những con linh dương thân mình nâu, đốm trắng, tai ngắn chính là Bambi bước ra từ câu chuyện của Disney. Ở đây, tất cả những điều cổ tích nhất đều có thật.
Từ điểm thứ Bảy đến điểm thứ Mười Bốn là những điểm ngắm toàn cảnh Thác Victoria, bao gồm Main Falls, Horseshoe Falls, Rainbow Falls, Armchair Falls và Eastern Cataract. Tôi và Smart đi men bìa rừng để đảm bảo không bỏ sót một mảnh ghép nào của thiên nhiên kỳ thú. Một đám người Tây phương đang vui vẻ với nhau bên kia biên giới vì một lần trong đời, họ thách thức bản thân ngâm mình ở Devil’s Pool. Dù sao thì tôi cũng tự hỏi, cảm giác cheo leo bên mép vực sẽ như thế nào nhỉ? Mỗi nhóm người chỉ được cho phép tối đa 30 phút ở trong Devil’s Pool. Mùa khô là mùa cao điểm dành cho những ai thích trải nghiệm cảm giác mạnh. Ngoài ra, họ còn làm cả những tour đi bộ khám phá đáy thác trong mùa này nữa cơ.
Tôi đã đứng ở điểm thứ Mười Lăm để nhìn ngược lại Thác Victoria vĩ đại. Đây là điểm nguy hiểm nhất (Danger Point) vì trơn trượt. Chẳng ai đặt chân ra được đến đây vào mùa mưa và có thể ung dung nhìn ngược lại một cung đường sắp kết thúc. Lòng thác sâu thẳm chỉ còn đá tảng cứng cáp, những cái hồ tí hon và dòng chảy màu xanh lục đổ tiếp ra sông để lượn lờ qua Mozambique trước khi thuộc về biển cả mãi mãi. Thác Victoria chính là thác sâu nhất thế giới trong bộ tam Thác-vĩ-đại với độ cao 107 metre, gấp đôi Thác Niagara ở biên giới Hoa Kỳ – Canada (51 metre) và gấp rưỡi Thác Iguazu ở Argentina (82 metre).
Rồi điểm thứ Mười Sáu đã ở ngay trước mắt: Cầu Victoria Falls lịch sử. Tương truyền ai đã đi bộ qua ba cây cầu cảng Sydney ở Úc, cầu Cổng Vàng ở San Francisco, Hoa Kỳ và cầu Victoria Falls sẽ kéo dài thêm được 10 năm tuổi thọ. Cầu Victoria Falls đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá khứ và thế giới hiện đại ngày nay khi nối liền hai bờ lãnh thổ của thủ đô Livingstone và Victoria Falls, trong khi dòng sông Zambezi đang chảy dữ dội bên dưới lại chia cắt lãnh thổ của hai thành phố. Tôi được nghe nhiều câu chuyện vui tai về cây cầu lắm, mà tìm kiếm mãi trên wikipedia chẳng có: cầu được thiết kế bởi kiến trúc sư người Anh George Andrew Hobson và thi công bởi lãnh đạo người Pháp nhằm sỉ nhục sự kém cỏi của người Pháp tại thời điểm đó. Phải mất 100 năm người ta mới có thể nhận ra được sắt thép giãn nở vào ban ngày dưới cái nóng khắc nghiệt của châu Phi và co lại vào ban đêm, dẫn đến lệch lạc các thông số tính toán. Một điều thú vị nữa về cầu Victoria Falls là tư vấn thông số kỹ thuật cho kiến trúc sư Hobson chính là kiến trúc sư chính thiết kế cầu cảng Sydney – Ralph Freeman. George Darwin – con trai của danh nhân Charles Darwin – đã khánh thành cầu Victoria Falls vào ngày 12/09/1905, đánh dấu bước chuyển mình lịch sử không chỉ của Zambia và Zimbabwe mà cả châu Phi nói chung. Tại thời điểm tôi đến thăm cây cầu, nó đã được 111 tuổi – một con số thật tròn trĩnh.
Những chiếc thuyền hơi cổ điển trung chuyển những vị khách giàu có chậm chầm trôi đi theo dòng nước phía dưới. Ở châu Phi, những chuyến xe lửa xình xịch chậm rãi xuyên lục địa hay những tour thưởng ngoạn sông nước bằng thuyền hơi níu kéo thời vàng son của châu Âu lại đắt đỏ hơn cả. Dường như người ta phải cần rất nhiều tiền để sống chậm nhỉ?
Dĩ nhiên, là tôi cũng phải đi bộ qua cầu chỉ để thoả mãn việc “been there, done that” (tạm dịch là “đã đến, đã làm”) của tuổi trẻ chứ chẳng trông mong tuổi thọ được kéo dài. Cây cầu là con đường nhanh nhất của người dân địa phương hai nước, nên giao thông luôn tắc nghẽn. Xe tải nối đuôi vượt biên giới nhộn nhịp để lại mịt mờ khói bụi – một sự thật phũ phàng với lịch sử mỹ miều được…ngắm từ xa.
Tiếng hò hét háo hức của ai đó đang nhảy bungee trên cầu là thứ âm thanh cuối cùng tôi nghe được…
Siyabonga (**), Victoria Falls!





—
(*): David Livingstone – nhà thám hiểm, anh hùng của Anh quốc vào thế kỷ XIX – là người phương Tây đầu tiên đã tìm thấy Thác Victoria vào 16/11/1855. Với tình yêu to lớn và 33 năm cuộc đời dành cho châu Phi, ông đã đưa hình ảnh của Thác ra thế giới như một món quà của nhân loại cho đến ngày nay. Tượng đồng tưởng nhớ Victoria Falls được đặt tại công viên quốc gia Victoria Falls từ 1955. Ông mất ở châu Phi vì bệnh sốt rét.
(*): Siyabonga là Cảm ơn trong tiếng Ndebele. Đây cũng là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trong nhóm những người hiện đại ở Zimbabwe, tiếp theo sau đó là tiếng Anh và tiếng Shona.
(***): gà sao châu Phi (guinea folw) chia làm hai loại là guinea fowl và helmet guinea fowl (helmet trong tiếng Anh có nghĩa là mũ bảo hiểm) vì những con gà sao này có hoa văn xanh phần đầu, tạo cảm giác như đang đội mũ bảo hiểm.
———-
Chút Âm hưởng Anh quốc còn sót lại
Bị đô hộ nhiều nằm trời dưới kỷ nguyên Victoria, chẳng có gì khó hiểu nếu Victoria Falls còn phảng phất nét quý tộc Anh thuở nào. Tôi cho phép mình đi quanh thành phố dưới những hàng cây xanh dịu mát sau một buổi sáng quanh quẩn trong vườn quốc gia Victoria Falls. Dân địa phương nằm trên bãi cỏ thư thái đánh một giấc ngủ trưa quên trời đất, tình nhân thoải mái ôm nhau nồng cháy trong cái công viên duy nhất của trung tâm thành phố. Lững thững đi bộ đến điểm cuối cùng của thành phố, tôi chạm khách sạn Victoria Falls – cái khách sạn cổ kính, xa hoa bậc nhất được xây dựng với mục đích chào mừng những vị khách thượng lưu đến Zimbabwe bằng đường tàu lửa Cairo (*) để ngắm nhìn cầu Victoria Falls hoàn thành vào năm 1904. Khách sạn Victoria Falls thở hơi thở Anh quốc, mang trong mình dòng máu Anh quốc, chứng kiến những sự kiện diễn ra ngày trước của Anh quốc và đến ngày nay vẫn còn lưu giữ nét văn hoá Anh quốc. Khách sạn Victoria Falls hiển nhiên là một trong những khách sạn giá trị nhất thế giới. Ý tôi là giá trị lịch sử, giá trị tinh thần và cả giá tiền cũng…chát chúa.
Tôi nuông chiều bản thân bằng một bữa trưa ngon miệng ở đây với món salad cá sấu, một đĩa tagliatelle phô mai béo ngậy và một ly Malawi Shandy mát lạnh. Bữa ăn ngon đến độ khi ngồi gõ lạch cạch những dòng này bây giờ tôi vẫn còn thòm thèm. Phục vụ viên ở đây mỗi người chỉ phục vụ một bàn, xưng tên giới thiệu rành mạch với thực khách và trò chuyện như những người bạn thân quen.
Điểm đặc biệt nhất về khách sạn Victoria Falls – như bao khách sạn đắt tiền khác – chính là tầm nhìn. Từ khuôn viên xanh ngắt của khách sạn chính là trực diện cầu Victoria Falls. Khách sạn còn tình cờ một cách tinh ý khi để hai cái ghế bằng mây dưới tán cây rợp bóng.
Khi tôi đi dọc những con đường trong trung tâm thành phố để gửi về cho mình và bạn bè vài ba tấm bưu thiếp, có rất nhiều người mời mọc tôi những món quà lưu niệm đậm chất châu Phi. Tôi mua ủng hộ mỗi người đi đường một món. Có thể tôi đã sai hoặc bị nói thách khi chẳng trả giá một đồng và ủng hộ những người bán hàng rong đó trên con đường làm phiền du khách. Nhưng nếu tôi là họ, lang thang trong cái thời tiết nực nội của châu Phi để đổi lại bằng một ngày đủ đầy, có khi tôi còn dai dẳng mời chào du khách khác hơn cả họ. Tôi mua tặng mình cái thìa gỗ hình con hươu cao cổ, cái đĩa đựng xà phòng hình con hà mã, tấm bản đồ “Big Five”, những bức tượng đủ hình đủ dạng các loài động vật hoang dã, những con voi treo cây thông cho mùa Giáng Sinh sắp tới và những tờ tiền trăm tỷ. Tôi hứa, những món đồ kỷ niệm này sẽ theo tôi suốt đời.
Những con lợn lòi châu Phi lững thững đi trong thành phố, dẫn lối cho tôi đến khu chợ trời Curio. Nơi đây gần như là “khu trung tâm mua sắm” tấp nập nhất trung tâm thành phố. Đàn bà sẽ bán những món hàng mềm mại, nữ tính một bên và đàn ông sẽ bán những món hàng rắn rỏi, hoang dại một bên. Ai cũng chào mời với cái giá cao ngất trời, tôi chỉ trả lời như Smart đã dặn “Tôi làm việc trong công ty du lịch từ Việt Nam, tôi đang đi khảo sát để mang đoàn Việt Nam sang đây. Anh mà bán đắt, chất lượng không tốt thì tôi chẳng cho khách tôi đến khu chợ này đâu”. Thế là tôi mua được một chiếc lục lạc ngựa vằn xinh ơi là xinh với cái giá chỉ bằng nửa giá ban đầu.
Đi lòng vòng để quan sát đời sống của người dân địa phương, tôi thấy mình thật là may mắn. Một hàng người ròng rã xếp hàng chờ…rút tiền mặt ở cây ATM và ngân hàng gần như là duy nhất trong thị trấn. Người dân ở đây luôn mong muốn được lĩnh lương hoặc mua bán bằng tiền mặt. Mỗi ngày, họ chỉ được rút tối đa 60USD dù trong tài khoản có bao nhiêu số 0 đi chăng nữa. Việc xoay vòng tiền mặt ở đây vẫn còn là một bài toán mà chính phủ và các ngân hàng chẳng thèm hợp tác giải quyết cho người dân. Ba ngày tôi ở Victoria Falls là ba ngày tôi chứng kiến một hàng người dài chờ đợi mỏi mòn như nhau. May quá là tôi đã tìm hiểu trước và mang đủ tiền mặt. Những dãy nhà khang trang thoảng hương thuộc địa cũ chỉ là vỏ bọc hoàn hảo cho sự lạc hậu và bất cập của Zimbabwe.
Tôi đi thật xa để học cách hài lòng và không oán trách những gì còn khó khăn ở quê nhà tôi.









—
(*): Khách sạn Victoria Falls là một trong những dự án của tuyến tàu hoả xuyên Phi từ Cairo đến Victoria Falls (Cairo cách Victoria Falls 5,165 dặm). Khách sạn thì đã hoàn thành, còn dự án tàu hoả thì mãi mãi “chết yểu”.
———-
Chuyến bay của những thiên thần
Khi tìm ra được thác Victoria, David Livingstone đã biên niên lại rằng: “Scenes so lovely must have been gazed upon by angels in their flight” (tạm dịch: một khung cảnh đẹp đến mức phải được nhìn ngắm bởi những thiên thần bay trên bầu trời). Livingstone đã không thể nhìn một Thác Victoria từ trên bầu trời vào thời điểm ấy. Tôi đồ rằng ông đã tưởng tượng mình như một thiên thần bay lượn và ngắm nhìn thành tựu khám phá của mình từ trên cao thì mới có thể ghi chép lại chính xác đến như thế. Hẳn rồi, Thác Victoria và những đường biên giới trải dài trên dòng sông Zambezi là bức tranh mãn nhãn chỉ xứng đáng dành cho những vị thần.
Đó là chuyện ngày xửa ngày xưa. Còn ngày nay, con người đã tiến hoá và hiện đại đến độ hưởng thụ được những gì mà Đấng tối cao của chúng ta hưởng thụ. Vì chúng ta đã có Trực thăng! Phải, trực thăng để ngắm toàn cảnh Thác Victoria, dòng sông mẹ Zambezi, đôi bờ lãnh thổ của Zambia, Zimbabwe và đường chân trời bất tận của châu Phi được đặt tên là “Flights of Angels” (tạm dịch: chuyến bay của những thiên thần) như cách mà Livingstone đã gọi ngày nào.
15 phút trên bầu trời là 15 phút dường như trái tim tôi ngừng đập. Tôi chưa trải nghiệm đi trực thăng bao giờ, nhưng đó không phải là lý do chính khiến “trái tim tôi ngừng đập”. Những làn khói bên dưới đã thôi thét gào mà lại lấy đi hơi thở của tôi một cách tĩnh lặng nhất. Toàn bộ Thác Victoria hiện ra nổi bật giữa rừng già châu Phi hùng vĩ, hoành tráng, trang nghiêm như một bản anh hùng ca dành riêng tặng David Livingstone và những thiên thần. Nếu có điều gì vĩ đại nhất trong cuộc đời tôi đã từng được chứng kiến, đó chính là Chuyến bay của những thiên thần. Nếu chỉ được mang theo bên mình một hình ảnh của cuộc đời mà tôi đã sống, đó phải là Chuyến bay của những thiên thần.
Một ngày kia, nếu tôi có chết đi và gặp Thượng Đế. Tôi tin Người sẽ hỏi tôi, “Này con trẻ, Thiên Đàng thế nào?”. Hoá ra, tôi đã thực sự ở trên Thiên Đàng 15 phút cùng với các thiên thần.
Nếu tôi khuyên lơi ai đó một lời khi họ đến Victoria Falls, thì đó chính là phải trải nghiệm Chuyến bay của những thiên thần. Những điều khác không còn quan trọng nữa. Những con búp bê cầu mưa makishi như đang nhảy nhót nhìn tôi cười khẩy “Hỡi kẻ phàm trần tầm thường, giờ thì ngươi đã biết thần linh chúng ta sống sung sướng ra làm sao rồi chứ nhỉ?”.
Tôi đã sống đủ tốt khi mà đối tác dành cho tôi một suất ghế VIP bên cạnh phi công mặt ngầu và chỉ phải chi trả có 75USD. Các bạn ở đây hứa với tôi rằng nếu một ngày nào đó tôi quay trở lại cùng người thương, họ sẽ chuẩn bị cho tôi một bữa tối lãng mạn ngước nhìn những chiếc trực thăng đập cánh bay lên không trung trong ánh nắng tàn ngày, khi bầu trời bắt đầu lốm đốm những vì sao. Chúng tôi đều tin rằng trong đó có vì sao mang tên David Livingstone.
Và tôi biết tôi đã sống đủ!








———-
Làm sao tôi lại có thể quá may mắn nhận được quá nhiều chỉ trong một ngày từ Mẹ Thiên Nhiên thế nhỉ? Tôi còn có thể đòi hỏi gì hơn trong những năm xuân thì của mình? À, tôi chỉ dám xin xỏ thêm một shot marula (*) để kết thúc niềm lâng lâng sung sướng trong một ngày hạ muộn bên bờ sông mẹ Zambezi.
—
(*): Marula là một loại cây bản địa của rừng Miombo của miền Nam châu Phi, trải dài đến Tây Phi và Madagascar. Voi rất thích ăn loại cây này. Bartender còn đùa với tôi rằng, chúng ăn nhiều đến nỗi có khi xỉn “quắc cần câu” vì cồn có trong thành phần của lá cây và voi cũng là tác nhân chính làm chậm quá trình sinh trưởng của marula (vì ăn nhiều quá đó mà).
———-
.::Nat & her journeys::.
Victoria Falls, Zimbabwe, Nov ’16