Chỉ có vài nơi trong cuộc đời tôi đã đi qua để lại cho tôi những dư vị sâu lắng. Mỗi khi nhìn lại những bức ảnh chụp vội hoặc căn kê kỹ càng ống kính, những khoảnh khoắc ở những nơi đặc biệt nhường ấy như sống lại trong tôi chi tiết đến thèm thuồng. Châu Phi là một trong những vùng đất như vậy. Châu Phi ở đây là Zimbabwe và Nam Phi tôi đã may mắn đặt chân đến vào tháng Mười Hai năm 2016.
Nếu có một vùng đất nào làm tôi mong muốn phô trương mọi kỷ niệm, chẳng lưu lại chút riêng tư thì đó là châu Phi.
Nếu có một vùng đất nào làm tôi cảm thấy tự hào và thăng hoa trọn vẹn vì đã được đặt chân tới thì đó là châu Phi.
Nếu có một vùng đất nào khơi gợi cho tôi những tiềm tàng xúc cảm và mở mang thêm vốn kiến thức hạn hẹp của tôi về Thiên Nhiên, về Cuộc Sống, về Con Người thì đó là châu Phi. .
Nếu có một vùng đất nào đại diện cho vẻ đẹp hoàn hảo nhất của loài người, của trái đất thì đó là châu Phi.
Tôi hứa, tôi sẽ chẳng bỏ sót bất cứ điều gì tôi đã trải nghiệm ở châu Phi.
—–
Chuyến bay 24hrs từ Việt Nam đến Zimbabwe khá dễ chịu. Hành trình bay có dài nhưng trở ngại đầu tiên mà tôi gặp phải ở lục địa đen lại là visa, mặc dù tôi đã có visa điện tử từ trước khi khởi hành gần cả tháng trời. Sân bay Zimbabwe nhỏ nhưng sạch sẽ. Mọi thứ ở đây trông có vẻ hiện đại so với tưởng tượng của tôi từ trước khi đặt chân đến nhưng thực chất lại “lạc hậu”, chắc là như Việt Nam nhà tôi ở những năm gần cuối 90s ấy. Tôi mất 1hr đồng hồ chẵn tròn để có thể nhập cảnh suôn sẻ chỉ vì cái hệ thống ở sân bay ngày hôm ấy chẳng may đóng băng và họ chẳng thể nào tra được visa điện tử của tôi. Được đặc cách vào văn phòng nhân viên để…sử dụng internet, mở hộp thư điện tử của tôi cho họ xem “bằng chứng” lãnh sự quán Zimbabwe đã chấp nhận tôi vào lãnh thổ của họ, mới thấy được cái vẻ khang trang bề ngoài là vỏ bọc hoàn hảo cho sự thụt lùi so với thế giới ở lục địa đen.
Tôi chẳng ngại đợi chờ, tôi cũng chẳng trách họ sao không dễ dàng hơn. Đi nhiều, dạy cho tôi nhiều bài học, và một trong những bài học nên áp dụng khi ở sân bay là dẫu có điên tiết đến mấy cũng không bao giờ được cáu gắt với hải quan. Thành ra, mà trong lúc gan ruột có sôi sục cồn cào vì đói và vì nôn nao thì tôi vẫn lẩm nhẩm câu thần chú “Patience is bitter, but it bears sweet fruits” (Sự kiên nhẫn quả là đắng chát, nhưng nó thực cho ra trái ngọt). Và tôi nghĩ nó đã linh nghiệm một cách thần kỳ ở châu Phi! Tôi thậm chí có thể đợi chờ lâu hơn thế nữa để thoả mãn tình yêu và lòng cảm kích của tôi dành cho thế giới mà tôi may mắn thuộc về.
Cái visa Zimbabwe nguệch ngoạc chữ viết tay rút cuộc cũng được dán một cách đường hoàng vào hộ chiếu của tôi, với sự xin lỗi chân thành và một lời chúc tốt đẹp từ tất cả những nhân viên sân bay đã tiếp xúc và giúp tôi giải quyết trục trặc nhỏ xíu cho chuyến đi tuyệt vời nhất sắp đến.


—–
Smart – tour guide của tôi trong những ngày tới – đã chờ tôi rất lâu bên ngoài. May mà bạn ấy chưa bỏ tôi mà đi.
Vừa bước ra khỏi cổng sân bay thì một band các anh châu Phi cao, to, đen ăn mặc hổ báo như thổ dân gõ trống hát ca chào mừng tôi bằng điệu múa truyền thống hoang dã mang tên Horn of Africa (mà có khi họ đều là thổ dân thật). Họ nhiệt tình đến độ tôi không thể mua ủng hộ đĩa CD mà ngại ngùng vô cùng. Tôi nhẹ nhàng bảo rằng tôi đi công tác, không phải khách du lịch nên không hào phóng ủng hộ mua sản phẩm của các anh ấy được; thay vào đó, hãy chụp chung với tôi một tấm hình lưu niệm đầu tiên ở lục địa đen. Vậy đó, nhờ bức hình một con bé châu Á toe toét lọt thỏm giữa một rừng các anh chàng châu Phí lực lưỡng mà “ở nhà” thấy tôi đã an toàn và vui vẻ ở châu Phi thế nào. Rất nhiều người đã từng hỏi tôi về sự gan dạ khi đi xa một mình, đặc biệt là người lớn tuổi. Tôi tin, thế giới ngoài kia có rất nhiều người xấu, nhưng người tốt cũng nhiều chẳng kém. Càng ở những nơi xa xôi và nghèo nàn như châu Phi, nụ cười càng ấm ấp.
24hrs lơ lửng trên trời chẳng làm tôi mệt mỏi, cũng bởi vì bầu trời châu Phi sở hữu một màu xanh đẹp nhất mà tôi đã từng được chứng kiến.

—–
Tháng Mười Hai ở châu Phi trái mùa với thế giới, nên mọi thứ tràn trề nhựa sống, nhất là mây và trời. Rồi tôi cứ tự hỏi mình, mùa đông ở nơi này thế nào? sắc trời sẽ ngả ra sao?
Đường từ sân bay về resort tôi ở độ hơn 30 phút. Cây cối ở cái xứ nóng hổi này vẫn mọc sum suê thẳng tắp hai bên đường vắng, bầu trời cao và những cụm mây trắng tạo hình, tạo khối đủ kiểu. Tôi chưa thấy nơi nào bầu trời rộng lớn lại khiêm tốn làm nền cho mây trắng. Đằng xa xa, thủ đô Livingstone của Zambia hiện lên như một giấc mộng trưa hè đến muộn. Tôi ở bên này biên giới, và chưa bao giờ hối hận vì đã chọn bay đến Victoria Falls, thay vì bên kia lằn ranh.
Đường từ sân bay về resort không có nhà dân, phố thị mà chỉ có những cánh rừng hoang vắng. Smart bảo, nơi nào có đường mòn dẫn lối thì sâu trong rừng có làng mạc và bộ tộc sinh sống. Bạn biết không, Smart bảo, thỉnh thoảng động vật ăn thịt hoang dã vẫn “ghé qua” đấy, khi chúng nó đói quá, và khi chúng nó bị thương nặng cần giúp đỡ. Từ từ tôi sẽ kể cho bạn nghe rất nhiều về cuộc sống hoang dã mà tôi đã nghe qua từ chính những con người hoang dã nhất, và may mắn có đôi lần đã thấy tường tận trong 14 ngày ở châu Phi.
Ở Victoria Falls này, trung tâm thành phố chỉ là một cụm nhỏ xíu gồm những nhà hàng sang trọng, những quán cafe chơi nhạc sống sống động, ngân hàng, toà thị chính, vài ba khu trung tâm tập trung khách du lịch mua sắm, bưu điện và một cái khách sạn năm sao gần như là duy nhất là Victoria Falls. Cuộc sống sầm uất nhất thủ đô Zimbabwe chỉ gói gọn trong 30 phút đi bộ là hết. Người dân địa phương không thuộc bộ tộc sống ở những ngoại ô bao quanh trung tâm. Đó được xem là những người địa phương hiện đại và mến mộ văn hoá phương Tây du nhập. Những bộ lạc tách mình với thế giới vẫn sống hun hút trong rừng thẳm và duy trì những tập tục cổ hủ, đôi khi bất công đến rợn người. Hồi sau, tôi sẽ kể cho bạn nghe chúng ta đã may mắn như thế nào khi không sống một đời sống đang diễn ra hàng ngày ở châu Phi. Smart – tour guide của tôi trong hai ngày tới thuộc tuýp hiện đại – nên tôi thoải mái hỏi han chẳng chút e dè. Anh đã có gia đình và hai con nhỏ; anh không hút thuốc, không uống rược, không sống phóng túng và mộ đạo. Anh chia sẻ những ước mơ được phát triển bản thân và mong muốn giống nòi của mình có một tương lai tươi sáng, nên anh luôn cố gắng tránh xa những tệ nạn ở đất nước thứ Ba này.
Tôi chuyện trò với Smart như những người bạn thân quen lâu ngày, dẫu chúng tôi là hai người thuộc về hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Thực sự khác nhau!
—–
Resort A’Zambezi River Lodge là một resort cao cấp mà công ty đối tác đã đặt cho tôi, nằm thảnh thơi bên dòng sông Zambezi – một trong bốn dòng sông dài nhất châu Phi, chảy qua Zambia, một phần đông Namibia, một phần đông Angola, Botswana, Zimbabwe và cuối cùng là Mozambique trước khi chảy ra Ấn Độ Dương mênh mông. Nhân viên khách sạn đã dành cho tôi một trong hai căn phòng thượng hạng nhất mà họ có, và đối đãi với tôi như một vị công chúa Đông Phương quá bộ viếng thăm.
Nghỉ ngơi chưa đầy một giờ đồng hồ, tôi đã phải chuẩn bị theo lịch trình mà đối tác đã soạn sẵn. Chuyến đi này vừa là khám phá một miền đất mới để thiết kế sản phẩm tour châu Phi theo yêu cầu của công ty, vừa là để chiều lòng sở thích du lịch của cá nhân tôi. Đi thật xa, chờ thật lâu, vậy mà sao mà tôi chẳng hề đuối sức.
Tôi đã thực sự bắt đầu cuộc chinh phạt châu Phi của mình bằng việc đón hoàng hôn trên dòng sông mẹ Zambezi vĩ đại – thật là một cách khởi đầu bằng sự kết thúc hoàn hảo.
—–
Đi thuyền trên dòng sông Zambezi, mọi thứ trông có vẻ êm ả đến lạ. Nhưng dưới bề nổi bình yên đó là từng đàn hà mã ngâm mình tắm nắng, thực hung hãn chỉ chực chờ cấu xé con mồi. Sông nước này là lãnh thổ của chúng. Hà mã đi theo từng đàn để khuếch trương sức mạnh. Có đôi khi, tôi bắt gặp một đàn chỉ có hà mã mẹ và những con hà mã con tách lẻ. Chúng là những con hà mã bị chính đồng loại của mình từ chối, và phải học cách sinh tồn độc lập chống lại những con vật khác, và với chính những đàn hà mã cùng giống loài.
Đằng xa xa bên bờ sông, cá sấu nguỵ trang bất động như những tảng đá trong vườn nhà ai. Các bạn ở resort kể, ngày xưa thi thoảng cá sấu trườn bò lên cả khuôn viên sân vườn. Nhưng khi dân số loài người đã lấn át dân số động vật hoang dã, chúng hiểu nơi đây không còn là lãnh địa của mình và rút về với thế giới Mẹ Thiên Nhiên nuôi dưỡng. Tuy vậy mà tôi vẫn thấy biển báo cá sấu đặt dọc bãi cỏ ven bờ hồ.
Khi tôi nghe các bạn nói rằng có lúc voi cũng đi lạc bằng đường nào đó vào resort, thì miệng mồm há hốc và bảo ước gì được “diện kiến” chúa rừng một lần. Các bạn chỉ cười và bảo tôi “Be careful of what you wish for” (hãy cẩn thận với những gì bạn ước đấy nhé!). À há, thế bạn nghĩ tôi mong chờ sẽ được thấy điều gì ở châu Phi nào?
Shalton – tour guide thứ Hai của tôi trong những ngày tiếp theo (thế tôi mới nói tôi được đối đãi như một cô công chúa Phương Đông nũng nịu) – mời tôi một ly beer Zambezi nhăm nhi cùng chút mồi nhắm trong lúc thưởng thức những con nhạn biển bay là là trước mắt và lắng nghe thuyền trưởng giải thích về các loài động vật sông nước. Bạn nói beer Zambezi cũng là một trong những “Big Five” của châu Phi đấy. “Big Five” là một cách gọi mà tôi sẽ dùng nhiều thật là nhiều trong những ký sự ở châu Phi. “Big Five” là “ngũ hổ tướng” bao gồm Sư tử, Voi, Bò rừng, Tê giác và Báo đốm. Đây là năm loài động vật khó săn bắt nhất từ thuở xa xưa đến giờ, cũng là năm loài động vật dũng mãnh nhất của rừng già Phi châu.
Trời dần buông, những ánh nắng cuối ngày ở châu Phi hừng hực sức sống hơn bất cứ vùng đầt nào tôi đã từng đi qua hắt lên mặt tôi nóng ấm. Rồi hoàng hôn bao trùm tất cả bằng một màu đỏ hồng dịu dàng, trái ngược với cái sự dữ dội sắp ập đến của màn đêm châu Phi. Tôi bỗng cảm thấy biết ơn cuộc đời này quá đỗi. Chỉ cách nhau 24hrs giờ chim bay, mà tôi đã đặt chân đến một thế giới thật khác – một thế giới mà tôi luôn khao khát được khám phá từ khi còn bé. Bất giác, tôi quay sang bảo Shalton hãy dạy tôi “Cảm ơn” bằng tiếng bản địa, dù tôi biết một lời cảm ơn chẳng bao giờ là đủ để trả lại những gì mà tôi đã nhận được từ cuộc đời này, đặc biệt là châu Phi.
Siyabonga (*), hỡi dòng sông mẹ Zambezi!


